Những nguyên tắc điều chỉnh đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế và các nguyên tắc đặc thù của quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia. Trong việc điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế tư còn phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của Tư pháp quốc tế.

1. Các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế

Thứ nhất, tôn trọng và bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của quốc gia ở trong nước và quyền độc lập của quốc gia đó trong mối quan hệ quốc tế. Tất cả các quốc gia đều bình đẳng về mặt pháp lý, bình đẳng tương xứng về quyền và nghĩa vụ. Các quốc gia xây dựng quy phạm pháp luật quốc tế trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng, không bị quốc gia nào bị chèn ép về chủ quyền.

Thứ hai, tận tâm thiện chí để thực hiện cam kết quốc tế. Cam kết quốc tế thể hiện ở điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên, tập quán quốc tế, văn bản pháp lý do quốc gia đơn phương đưa ra trong đó ghi nhận quyền và nghĩa vụ của quốc gia đó với chủ thể khác.

Thứ ba, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Không can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất kỳ công việc nội bộ hoặc đối ngoại của quốc gia khác; không can thiệp vào hoặc đe dọa can thiệp vũ trang nhằm chống lại quyền năng chủ thể của quốc gia khác; cấm sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị, các biện pháp khác nhằm mục đích buộc các quốc gia khác phải phục tùng; cấm thực hiện hoạt động lật đổ chế độ ở quốc gia khác; cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của quốc gia khác. 

Thứ tư, giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình. Thực hiện các phương pháp hòa bình phổ biến như đàm phán, hòa giải. Việc giải quyết hòa bình dựa trên cơ sở bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.

Thứ năm, tôn trọng các quyền tự do của dân tộc. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền tự do, quyền xác định cho mình chế độ mà không có sự can thiệp nào từ bên ngoài. Các quốc gia khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do của dân tộc và có nghĩa vụ thúc đẩy, giúp đỡ các dân tộc thực hiện quyền tự quyết.

Thứ sáu, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực. Không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ, nền độc lập của quốc gia khác, ngăn cản các dân tộc thực hiện quyền tự quyết. Trong trường hợp tự vệ khi bị tấn công, ngăn ngừa đe dọa hòa bình, trấn áp hành vi xâm lược thì việc dùng vũ lực được xem là hợp pháp, cấm dùng chiến tranh xâm lược và tuyên truyền chiến tranh.

Thứ bảy, tuân thủ các cam kết quốc tế. Tất cả các thỏa thuận về mặt ý chí của các quốc gia được ghi nhận trong điều ước quốc tế và tập quán quốc tế được gọi là cam kết quốc tế. Các chủ thể của Luật quốc tế phải có nghĩa vụ thực hiện cam kết quốc tế phù hợp với Luật quốc tế sao cho tận tâm, có thiện chí và đầy đủ; không vi phạm các cam kết quốc tế với lý do trái với luật pháp của quốc gia mình.

2. Các nguyên tắc cơ bản đặc thù điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế công

2.1. Nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các quốc gia

Nguyên tắc không phân biệt đối xử được thiết lập trên cơ sở hai nguyên tắc hợp thành: nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đãi ngộ quốc gia.

- Nguyên tắc tối huệ quốc:

Nếu một quốc gia cho phép các thương nhân của quốc gia khác được hưởng ưu đãi thuế quan hay các ưu đãi khác đối với hàng hóa hay dịch vụ nào thì ngay lập tức và vô điều kiện, quốc gia này cũng phải cho phép thương nhân của các quốc gia khác hưởng ưu đãi như thế đối với sản phẩm tương tự. Nghĩa vụ đối xử theo nguyên tắc tối huệ quốc không chỉ áp dụng đối với hàng nhập khẩu mà còn đối với hàng xuất khẩu. Trong hệ thống của Tổ chức thương mại thế giới thì bất kỳ ưu đãi, ưu tiên, đặc quyền hoặc miễn trừ nào mà nước thành viên dành cho sản phẩm nước thành viên khác sẽ phải được dành cho sản phẩm cùng loại của nước thành viên còn lại, tức là sản phẩm nhập khẩu cùng loại được đối xử bình đẳng và không phân biệt tại nước nhập khẩu. Nguyên tắc tối huệ quốc được ghi nhận tại Điều 1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1994, Điều 2 Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS),...

Như vậy, việc thỏa thuận áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc, các quốc gia không phân biệt đối xử đối với thương nhân giữa các nước và không được đối xử đối với thương nhân của một nước kém ưu đãi hơn một nước khác trong mọi vấn đề liên quan đến hoạt động thương mại. Tuy nhiên, pháp luật thương mại quốc tế hiện đại cho phép giảm thuế quan và các rào cản thương mại khác trên cơ sở ưu đãi giữa các nước tham gia điều ước quốc tế thương mại khu vực. Thuế suất thấp hoặc miễn thuế đối với hoạt động thương mại giữa các thành viên của thỏa thuận thương mại khu vực không phải áp dụng đối với nước khác. Do vậy, điều ước thương mại ưu đãi khu vực tạo thành một ngoại lệ quan trọng của nguyên tắc tối huệ quốc.

Một số trường hợp ngoại lệ như: chế độ ưu đãi đặc biệt, khu vực mậu dịch tự do hoặc liên minh thuế quan, đối với các nước đang phát triển, các ngoại lệ liên quan đến bảo vệ đạo đức, trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, cuộc sống của con người, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ an ninh quốc gia.

Trước Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT) năm 1947 thì giữa một số nước thành viên hình thành chế độ ưu đãi đặc biệt về thuế quan truyền thống trong thời kỳ chế độ thuộc địa. Ví dụ: các đặc lợi về thuế quan mang tính phân biệt đối xử vì áp dụng riêng một số nước hoặc trong khu vực nhất định như Khối thịnh vượng chung, chế độ ưu đãi của Khối Liên hiệp Pháp, ưu đãi giữa Mỹ và Philipines,...Với điều kiện giới hạn với thuế quan đối với hàng nhập khẩu, không cho phép ưu đãi về thuế xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu và các hạng mục khác; chỉ giới hạn giữa các nước thành viên đã được chấp nhận và không được phép thiết lập ưu đãi mới sau Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1947; không cho phép tăng sự chênh lệch giữa thuế suất ưu đãi đặc biệt đã có khi thành lập Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1947 với thuế suất tối huệ quốc.

Về hội nhập kinh tế khu vực, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1947 có quy định rằng thuế quan và các rào cản thương mại khác về mặt thực chất giữa các nước trong khu vực phải được dỡ bỏ hoàn toàn, thuế quan và các rào cản thương mại khác với các nước ngoài khu vực không được phép tăng cao hơn so với trước khi thành lập đồng minh thuế quan hay khu vực mậu dịch tự do; đồng minh thuế quan hay khu vực mậu dịch tự do; đồng minh thuế quan, khu vực mậu dịch tự do phải được xây dựng theo lịch trình hợp lý trong một khoảng thời gian hợp lý. 

- Nguyên tắc đối xử quốc gia:

Trong thương mại quốc tế, nguyên tắc đối xử quốc gia được hiểu là dựa trên cam kết thương mại, một nước sẽ dành cho sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp của nước khác những ưu đãi không kém hơn so với ưu đãi mà nước đó đang và sẽ dành cho sản phẩm, dịch vụ. nhà cung cấp của nước mình. Điều này có nghĩa là nước nhập khẩu không được đối xử phân biệt giữa sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp trong nước với sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp nước ngoài về thuế và các khoản lệ phí trong nước cũng như về điều kiện cạnh tranh.

Một số trường hợp ngoại lệ theo quy định của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1994, chế độ này không áp dụng đối với việc cung cấp các khoản trợ cấp người sản xuất trong nước, phân bổ thời gian chiếu phim, mua sắm của chính phủ, bảo hộ ngành sản xuất non trẻ,...

2.2. Nguyên tắc mở cửa thị trường

Các quốc gia phải cam kết và thực hiện lộ trình mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư nước ngoài khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới với các nội dung sau đây: cấm áp dụng biện pháp hạn chế về số lượng; giảm, tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan; giảm dần và tiến tới xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan.

2.3. Nguyên tắc thương mại công bằng

Thương mại quốc tế được tiến hành trong điều kiện cạnh tranh bình đẳng như nhau thì ra đời một loạt các đạo luật nhằm đảm bảo điều kiện cạnh tranh công bằng trong thương mại quốc tế trong hệ thống Tổ chức thương mại thế giới, phụ lục 1A: "Các hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa" bao gồm: hiệp định về chống phá giá và thuế đối kháng, hiệp định về các biện pháp tự vệ, hiệp định định giá hải quan,...

Điều 10 Luật Thương mại năm 2005 đề cập đến nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại: "Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại". 

2.4. Nguyên tắc minh bạch

Mọi chính sách pháp luật về thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng phải được công khai, dễ dự đoán và có tính ổn định cao. Tính dễ dự đoán của các chính sách thương mại quốc tế của quốc gia, nhằm giúp thương nhân nắm rõ tình hình thương mại quốc tế hiện tại cũng như trong tương lai gần để họ có thể áp dụng hay sẽ áp dụng những đối sách thích hợp. Cho nên, các hàng rào thương mại sẽ không bị tăng một cách tùy tiện. Nguyên tắc này tạo sự ổn định cho môi trường kinh doanh thương mại quốc tế.

Phần lớn các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới đều có quy định về tính minh bạch: minh bạch về luật lệ, chính sách trong nước (thông báo, công bố công khai, tham vấn); các cơ quan giám sát (Ủy ban của hiệp định thương mại dịch vụ, Hội đồng về quyền sở hữu trí tuệ) nhận thông báo, thống kê, báo cáo hay cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại như: báo cáo kiểm điểm chính sách thương mại như: báo cáo kiểm điểm của từng nước (trung bình 1 năm 20 nước, trong đó 4 nước với 3 năm/lần, 16 nước 5 năm/lần, các nước khác 7 năm/lần) và báo cáo do Ban thư ký của Tổ chức thương mại thế giới soạn thảo.

3. Nguyên tắc cơ bản của Tư pháp quốc tế

Thứ nhất, tôn trọng sự bình đẳng về mặt pháp lý quốc tế giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau.

Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là sự bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia. Theo Hiến pháp năm 2013, nội dung cơ bản của nguyên tắc thể hiện ở việc Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt đối xử giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia trên thế giới. Các chế độ sở hữu này đều được đối xử bình đẳng về pháp lý, không phân biệt thể chế chính trị, kinh tế, xã hội mà các quốc gia đang hướng tới.

Thứ hai, tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài và của những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự.

Nhà nước có quyền và trên thực tế vẫn tham gia vào các quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài. Khác với cá nhân và pháp nhân, khi tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế, Nhà nước là chủ thể đặc biệt và được hưởng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối. Cơ sở của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của Nhà nước trong quan hệ thương mại quốc tế là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia.

Nhà nước nước ngoài được miễn trừ xét xử, không có cá nhân hay pháp nhân nào được phép kiện Nhà nước nước ngoài tại bất kỳ Tòa án nào khi có tranh chấp xảy ra, nếu Nhà nước nước ngoài đó không cho phép. Khi Nhà nước nước ngoài cho phép cá nhân hay pháp nhân khởi kiện mình tại Tòa án, Tòa án không được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế bảo đảm đơn kiện cũng như bảo đảm thi hành phán quyết của Tòa án, trừ khi Nhà nước nước ngoài đó cho phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

Nhà nước nước ngoài có quyền kiện cá nhân hay pháp nhân tại Tòa án, nhưng tự cá nhân, pháp nhân không được đệ đơn phản kiện khi Nhà nước nước ngoài đó chưa cho phép, mặc dù đơn kiện chính và đơn phản kiện liên quan chặt chẽ với nhau về nội dung.

Nhà nước nước ngoài có thể từ bỏ quyền của mình trong những trường hợp nhất định, nhằm tạo ra sự yên tâm cho các cá nhân, pháp nhân trong quan hệ thương mại với Nhà nước đó. Tuy nhiên, việc từ bỏ đó phải được thể hiện rõ ràng, công khai. 

- Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên đương sự, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, giới tính, ngôn ngữ,...(bao gồm cả các chế độ đối xử tối huệ quốc, chế độ đãi ngộ công dân).

Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: "1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; 2.Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội".

- Nguyên tắc có đi có lại.

Nguyên tắc có đi có lại là nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, theo đó một quốc gia sẽ dành chế độ pháp lý nhất định, có thể là chế độ đãi ngộ quốc gia hoặc chế độ đãi ngộ tối huệ quốc hay một số quyền lợi nào đó cho thể nhân và pháp nhân một nước ngoài giống như chế độ pháp lý, những quyền lợi hoặc ưu đãi mà các thể nhân và pháp nhân của nước này cũng được hưởng ở nước ngoài đó. Tức là, quốc gia này sẽ dành những chế độ pháp luật nhất định cho thể nhân và pháp nhân giống như chế độ pháp lý mà quốc gia khác đã dành cho thể nhân và pháp nhân của quốc gia mình.