1. Cơ sở hình thành nên nguyên tắc

Các Mác nói rằng bản thân con người vốn không hoàn hảo. Chính vì lẽ đó việc nảy sinh mâu thuẫn giữa người với người khi tham gia vào các quan hệ xã hội là điều tất yếu. Cho nên vấn đề cần đặt ra là khi xảy ra tranh chấp ta cần giải quyết nó như thế nào. Hiện nay nhà nước quy định đa dạng các phương thức giải quyết tranh chấp cho các bên trong quan hệ pháp luật như tự thỏa thuận, tự thương lượng hay hòa giải thông qua bên thứ ba, trọng tài. Trong trường hợp các bên không thể giải quyết mâu thuẫn thông qua các cách trên thì một trong hai bên sẽ khởi kiện ra tòa để Tòa giải quyết vụ việc dân sự. Trong quá trình giải quyết Tòa án luôn tuân theo nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của mình. Xuất phát từ quyền con người và quyền công dân của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự mà Tòa có trách nhiệm bắt buộc phải tiến hành hòa giải trước khi đưa vụ việc ra xét xử. Cũng xuất phát từ quyền tự định đoạt của các bên do bản chất của quan hệ pháp luật dân sự được hình thành trên cơ sở tự do, tự nguyện, bình đẳng nên không ai hiểu mâu thuẫn rõ ràng hơn chính bản thân các bên trong quan hệ dân sự đó, do đó việc có tham gia hòa giải hay không là do các bên tự lựa chọn.

2. Nội dung của nguyên tắc

2.1. Trách nhiệm tiến hành hòa giải vụ việc dân sự của Tòa án

Căn cứ Khoản 1 Điều 205 BLTTDS trừ những vụ án không được hòa giải hoặc những vụ án không tiến hành hòa giải được thì sau khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa có trách nhiệm phải tiến hành hòa giải dù kết quả của việc hòa giải có thành hay không thành. Tính bắt buộc phải tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thể hiện ở chỗ: Nếu Tòa không tiến hành hòa giải thì đây được coi là hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự và là căn cứ kháng cáo. Như vậy hòa giải được tiến hành với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những trường hợp không hòa giải được, pháp luật quy định không được hòa giải và những vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

2.2. Trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự tại Tòa

Nội dung này thể hiện Tòa án khuyến khích việc hòa giải trong các giai đoạn tiếp theo bằng việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng, miễn là những thỏa thuận đó không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Ngoài ra việc khuyến khích hòa giải này thể hiện rất rõ trong phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Tòa án sẽ hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Nếu các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử sẽ ra bản án công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

2.3. Việc hòa giải phải được tiến hành theo quy định của pháp luật TTDS

2.3.1. Nguyên tắc tiến hành hòa giải (Khoản 2 Điều 205 BLTTDS)

– Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình. Cơ sở pháp lý của hòa giải xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự tại Điều 5 BLTTDS. Do đó hòa giải không chỉ là trách nhiệm của Tòa mà còn là quyền của đương sự. Trong quá trình hòa giải, các bên đương sự tự bàn bạc với nhau về nội dung thỏa thuận nếu đương sự chấp nhận thỏa thuận đó chỉ vì bị hành vi dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực tác động đến ý chí thì không được xem là tự nguyện. Ngoài ra để đảm bảo nguyên tắc này thì Tòa án chỉ hướng dẫn các đương sự tự thỏa thuận bằng việc phân tích quy định pháp luật có liên quan đến tranh chấp để các bên tự liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình chứ không đưa ra đường lối giải quyết vụ án.

– Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

2.3.2. Phạm vi các vụ việc mà Tòa tiến hành hòa giải

Hòa giải được tiến hành với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những trường hợp không hòa giải được, pháp luật quy định không được hòa giải và những vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

a. Những vụ án dân sự không được hòa giải (Điều 206 BLTTDS 2015)

– Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước: Theo đó người gây thiệt hại không có quyền thương lượng với Nhà nước về mức độ bồi thường và bồi thường như thế nào bởi lẽ tính chất của loại tài sản này thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Mặt khác, pháp luật cũng phòng ngừa trường hợp những cá nhân đại diện cho Nhà nước, lợi dụng quyền đó để làm thất thoát tài sản của Nhà nước. Cần lưu ý rằng các trường hợp tài sản của Nhà nước nhưng được Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó thì sẽ không thuộc vào những vụ án dân sự không được hòa giải theo quy định tại Khoản 1 Điều 206 BLTTDS.

– Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dich trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội: Đây chính là các giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Tuy nhiên, trong vụ án mà các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu thì Tòa án vẫn tiến hành thủ tục hòa giải theo thủ tục chung.

b. Những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTDS)

– Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

– Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng: Lý do chính đáng được xác định là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được (tham khảo theo điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP); các sự kiện này xảy ra không phụ thuộc và chịu sự chi phối của con người. VD: Bão lụt, thiên tai, sạt lở,…

– Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự: Quan hệ hôn nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao hay ủy quyền cho cá nhân khác đại diện tham gia. Khi giải quyết vụ án ly hôn mà một bên là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được bởi một người mất năng lực hành vi dân sự là một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi và có Quyết định của Tòa án tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể hiện được ý chí, suy nghĩ của bản thân nên việc tổ chức phiên hòa giải cũng không có giá trị và không đạt được mục đích của hòa giải.

– Một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải: Để đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên đương sự, xuất phát từ thực tiễn xét xử, BLTTDS 2015 đã bổ sung trường hợp khi giải quyết vụ án dân sự mà một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải thì Tòa án không phải tiến hành hòa giải. Quy định này là phù hợp, tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, thể hiện rõ bản chất của vụ án dân sự là sự tự thỏa thuận giữa hai bên. Bởi khi đương sự có đề nghị không tiến hành hòa giải đã thể hiện ý chí không thiện chí hòa giải nên việc tổ chức phiên hòa giải cũng mang tính hình thức không có hiệu quả trong thực tiễn.

2.3.3. Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải

– Điểm mới quan trọng được quy định trong BLTTDS 2015 là trước khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán sẽ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ (Điều 208 BLTTDS). Quy định này có ý nghĩa nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm sự minh bạch, công khai để đương sự trong vụ án có cơ hội tiếp cận toàn bộ chứng cứ, tài liệu một cách bình đẳng, trực tiếp từ đó nhận định một cách khách quan vụ án tìm ra những điểm có lợi, bất lợi đối với mình tạo tiền đề giúp buổi hòa giải đạt được hiệu quả cao nhất. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải được diễn ra nối tiếp nhau.

– Căn cứ Điều 210 BLTTDS trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hòa giải: Buổi hòa giải chỉ được tiến hành khi có mặt đầy đủ các đương sự, trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên hòa giải và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên hòa giải; nếu các bên đương sự có mặt đều đề nghị hoãn phiên hòa giải thì Thẩm phán hoãn phiên hòa giải.

– Cũng căn cứ vào Điều 210, Thẩm phán phổ biến cho đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành hoặc không thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau đó nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Người đại diện theo ủy quyền của đương sự có thể nhân danh người được ủy quyền tham gia, trình bày quan điểm, thỏa thuận về việc giải quyết vụ án trong phạm vi được ủy quyền. Người bảo vệ quyền và lợi hợp hợp pháp cho đương sự có thể phát biểu, đóng góp ý kiến bổ sung cho người mà họ bảo vệ quyền lợi. Trên cơ sở lời trình bày của các bên, Thẩm phán lập biên bản hòa giải xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu đương sự trình bày bổ sung những vấn đề chưa rõ, chưa thống nhất. Biên bản hòa giải phải có đầy đủ chữ ký của những người tham gia phiên họp. Căn cứ vào biên bản hòa giải có thể xảy ra các trường hợp:

+ Hòa giải thành toàn bộ vụ án: Khác với việc hòa giải tại phiên tòa, chỉ trong trường hợp, các đương sự thống nhất được với nhau về toàn bộ các vấn đề giải quyết vụ án (kể cả phần án phí) thì Tòa án mới lập biên bản hòa giải thành, trong đó nêu rõ tranh chấp và nội dung các đương sự thỏa thuận, hướng giải quyết. Biên bản hòa giải thành được thừa nhận khi có đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS và phải có đầy đủ chữ ký của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự tham gia hòa giải. Văn bản hòa giải thành này chưa có giá trị pháp lý, chỉ là văn bản ghi nhận sự kiện pháp lý nhưng là cơ sở để Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Cần lưu ý trong vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, do tính chất đặc thù của quan hệ tranh chấp này nên mục tiêu hòa giải hướng tới việc đoàn tụ của hai vợ chồng. Trường hợp vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ các vấn đề có tranh chấp trong vụ án thì Tòa án sẽ lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành. Giá trị biên bản này tương tự như biên bản hòa giải thành

+ Hòa giải thành một phần vụ án: Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án hoặc thỏa thuận được về toàn bộ nội dung vụ án nhưng không thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ chịu án phí thì thuộc trường hợp hòa giải không thành; trong biên bản hòa Tòa án ghi rõ những nội dung đã được các đương sự thống nhất và những nội dung không thống nhất.

+ Hòa giải không thành: Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án phải lập biên bản hòa giải không thành (trong biên bản hòa giải phải ghi đầy đủ những nội dung không thỏa thuận được theo quy định tại Khoản 3 Điều 211 BLTTDS) và ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

2.3.5. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì đây là căn cứ suy đoán nội dung thỏa thuận tại biên bản hòa giải thành đã thể hiện đúng ý chí, mong muốn của chủ thể tham gia nên cần được công nhận. Việc ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có thể do Thẩm phán trực tiếp chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Đây là một quy định rất linh hoạt của pháp luật bởi thực tiễn xét xử rất nhiều trường hợp tại thời điểm phải ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận nhưng vì lý do khách quan mà Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải không thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận, trong trường hợp này Chánh án TAND có thể phân công một thẩm phán khác ban hành quyết định.

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay khi được ban hành và có giá trị pháp lý “tối thượng” khi không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

3. Ý nghĩa của nguyên tắc

3.1. Đối với Tòa án

Nếu hòa giải thành thì Tòa sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức đặc biệt khi hòa giải thành trong thời gian chuẩn bị xét xử thì sẽ không phải tiến hành tiếp các giai đoạn tố tụng sau. Mặt khác, nếu như công tác hòa giải được thực hiện tốt thì số lượng phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như phúc thẩm sẽ giảm rõ rệt. Điều này tiết kiệm được tiền bạc đồng thời nâng cao uy tín của Tòa án. Nếu hòa giải không thành Tòa án cũng nắm rõ tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của đương sự từ đó có đường lối giải quyết tranh chấp khách quan và công bằng nhất.

3.2. Đối với các bên trong quan hệ pháp luật dân sự

Trường hợp hòa giải thành thì mâu thuẫn giữa các bên được giải quyết triệt để góp phần hàn gắn lại tình đoàn kết đồng thời các đương sự không phải tốn thêm tiền bạc, thời gian, công sức tiếp tục những giai đoạn tố tụng sau. Trong trường hợp hai bên hòa giải không thành, họ cũng có cơ hội ngồi lại với nhau để phần nào hiểu rõ mong muốn của đối phương

3.3. Đối với trật tự xã hội

Hòa giải góp phần giữ gìn an ninh trật tự xã hội làm cho mối quan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh mà bằng sự thuyết phục, cảm thông, sẻ chia giữa các thành viên trong xã hội góp phần xây dựng nên khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh. Việc nguyên tắc hòa giải được tôn trọng nó còn giúp nâng cao ý thức pháp luật trong người dân.

4. Những kết quả đạt được khi thực hiện nguyên tắc trên thực tế

Trong BLTTDS thủ tục hòa giải được quy định khá chi tiết từ việc thông báo của Thẩm phán về phiên hòa giải, nội dung cụ thể của biên bản hòa giải đến việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cũng như hiệu lực của quyết định này do đó mà hoạt động hòa giải trong thực tiễn TTDS đã được nâng cao. Ngoài ra bên cạnh quy định về hòa giải trong TTDS pháp luật còn quy định một số loại hình hòa giải ngoài Tòa án như: hòa giải ở cơ sở theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở; hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể theo quy định của Bộ luật Lao động; hòa giải thương mại theo quy định của Luật Thương mại và Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại; hòa giải tranh chấp đất đai của UBND cấp xã... Trong đó, đối với một số loại tranh chấp thì hòa giải ngoài Tòa án là thủ tục bắt buộc trước khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền, còn được gọi là thủ tục tiền tố tụng. Kết quả hòa giải thành vụ việc ngoài Tòa án do cơ quan, tổ chức, cá nhân, người có thẩm quyền có thể được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận khi có yêu cầu (Chương XXXIII – BLTTDS).

Hiện nay hòa giải trong giải quyết vụ việc dân sự ngày càng được nhà nước chú trọng quan tâm. Cụ thể là Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) đã cho triển khai thực hiện Kế hoạch thí điểm đổi mới tăng cường công tác hòa giải trong giải quyết tranh chấp dân sự (được quy định tại Quyết định số 332/QĐ-TANDTC ngày 09/03/2018). Theo đề án thí điểm, trung tâm hòa giải có nhiệm vụ thực hiện hòa giải các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động trước khi tòa án thụ lý trừ những tranh chấp theo quy định của BLTTDS không được hòa giải. Qua 6 tháng thực hiện thí điểm (từ tháng 3 đến tháng 9/2018) đã thu được hiệu quả tích cực mà Kế hoạch đề ra. Tại Hải Phòng các trung tâm hòa giải, đối thoại đã nhận được hơn 2.500 đơn khởi kiện và đưa ra hòa giải, đối thoại gần 2.400 đơn. Trong đó, có hơn 1.800 đơn đã được hòa giải, đối thoại thành công, đạt tỷ lệ 76,2%. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Chánh án TAND Ung Thị Xuân Hương cho biết: Qua 3 tháng thí điểm, tính từ tháng 11/2018 đến ngày 15/2/2019, các trung tâm tiếp nhận 4023 đơn khởi kiện từ tòa án chuyển qua để thực hiện hòa giải, đối thoại. Trong số 2202 trường hợp được các trung tâm đưa ra hòa giải, đối thoại có 1580 trường hợp hòa giải, đối thoại thành, đạt tỷ lệ 71,8%. Hiện nay, TANDTC tiếp tục triển khai thí điểm hòa giải thêm tại 15 TAND cấp tỉnh. Kết quả thí điểm là cơ sở thực tiễn để xây dựng Đề án đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại TAND và xây dựng Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

5. Những hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc trên thực tế và kiến nghị

5.1. Về hình thức hòa giải

Đối với hòa giải trong tố tụng theo thống kê của TANDTC, trong những năm qua, tỷ lệ hòa giải trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án trung bình hàng năm đạt 50% số vụ án dân sự phải giải quyết và cá biệt có những Tòa án, tỷ lệ này đạt tới 60-70%. Tỷ lệ này là không thấp nhưng chưa đáp ứng đòi hỏi của tình trạng quá tải các vụ việc dân sự trước tố tụng tại Tòa án. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân chủ yếu là: chức năng chính của Thẩm phán là xét xử. Ngoài ra, khi hòa giải, Thẩm phán gặp phải những hạn chế nhất định về quyền hạn, kỹ năng; không ít Thẩm phán chưa chú trọng đúng mức đến công tác hòa giải; một số quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm trong hòa giải, cứng nhắc, không linh hoạt...

Ngoài ra đối với hòa giải ngoài Tòa án, việc hòa giải được tiến hành theo Luật Hòa giải ở cơ sở đạt tỷ lệ cao (trên 80%). Tuy nhiên, nhiều mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở chưa được phát hiện hoặc được phát hiện nhưng chưa được hòa giải, hòa giải không kịp thời, hòa giải không thành, dẫn đến khiếu kiện kéo dài. Tỷ lệ vụ việc được hòa giải thành tranh chấp lao động đạt 60% nhưng số vụ được Hòa giải viên lao động thụ lý rất thấp, chưa có trường hợp nào đề nghị công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án theo quy định tại Chương XXXIII Bộ luật TTDS.

Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định về hòa giải trong TTDS và một số phương thức hòa giải ngoài Tòa án. Mỗi phương thức hòa giải đều đạt được những kết quả nhất định nhưng chưa phát huy hết vai trò, hiệu quả từ bản chất của hòa giải nói chung. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hiện trạng này là quy định của pháp luật thiếu sự kết hợp giữa Tòa án và các nguồn lực hòa giải ngoài Tòa án trong quá trình hòa giải. Phương thức hòa giải ngoài Tòa án có ưu điểm là linh hoạt, giàu nhân lực thực hiện nhưng kết quả hòa giải chỉ được thi hành khi các bên tự nguyện. Hòa giải trong tố tụng có giá trị pháp lý và được thi hành bằng quyền lực nhà nước nếu các bên không tự nguyện nhưng vướng nhiều hạn chế như tính cứng nhắc, không mềm dẻo, linh hoạt của thủ tục tố tụng. Để có sự kết nối giữa Tòa án và các nguồn lực xã hội khác thì cơ cấu, tổ chức, thủ tục, quy trình hòa giải, đối thoại đòi hỏi phải có tính đặc thù so với với TTDS, TTHC và các thủ tục hòa giải ngoài Tòa án.

Để khắc phục vấn đề này cần phát huy ưu điểm của các hình thức hòa giải tranh chấp đồng thời đa dạng hóa hơn nữa các hình thức hòa giải. Thực tiễn chỉ ra rằng khi các bên có tranh chấp họ hoàn toàn có thể lựa chọn việc tự hòa giải thông qua một bên thứ ba mà không nhất thiết phải là Tòa hòa giải và việc tự hòa giải đó cần được Tòa công nhận. Vấn đề đặt ra là thay vì mở phiên tòa để công nhận tại sao Tòa không công nhận bằng một thủ tục do một Thẩm phán thực hiện. Bởi lẽ có những vụ việc dân sự không phức tạp, tranh chấp về tài sản giá trị không lớn và sau khi hòa giải có thể thi hành ngay. Việc xác lập chế định “thẩm phán hòa giải” sẽ góp phần giải quyết nhanh chóng các tranh chấp mà không cần qua thủ tục tố tụng phức tạp, thậm chí tòa án có thể chỉ là người làm chứng cho việc thỏa thuận của các bên tranh chấp khi được các đương sự yêu cầu và công nhận các thỏa thuận đó nếu không trái pháp luật.

5.2. Về nguyên tắc tiến hành hòa giải

Tại Khoản 2 Điều 205 BLTTDS khi quy định về sự tự thỏa thuận giữa các đương sự cần bổ sung thêm nguyên tắc bình đẳng và trung thực. Bởi lẽ trong nhiều trường hợp không phải các bên đều có thể bao dung, nhường nhịn để đạt được sự thỏa thuận có lý, có tình. Nhiều khi vì chênh lệch về kinh tế, địa vị xã hội mà một bên phải hạ mình miễn cưỡng chấp nhận thỏa thuận dù thỏa thuận ấy không hề công bằng. Việc quy định thêm nguyên tắc này còn tránh được tình trạng thông đồng, lừa dối của các bên khi thỏa thuận.

5.3. Quy định về đương sự vắng mặt vì lý do chính đáng chưa cụ thể

Như đã biết, một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Tòa án không tiến hành hòa giải được chính là việc đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng. Mặc dù vậy, BLTTDS 2015 và trước đó là Nghị quyết số 05/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (nay đã hết hiệu lực) cũng chưa hướng dẫn cụ thể về trường hợp nếu như đương sự sau đó lại đề nghị Tòa án mở thủ tục hòa giải để họ thương lượng với nhau thì Tòa án có mở lại phiên hòa giải hay không. Vì nếu như Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì lúc đó sẽ phải tiến hành thủ tục mở phiên tòa và kéo theo là việc hồ sơ vụ án sẽ phải chuyển đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và những người tham gia tố tụng khác như Hội thẩm nhân dân để cùng nghiên cứu phục vụ cho quá trình xét xử. Sau đó, giả thiết ngay tại phiên tòa các đương sự mới hòa giải và việc hòa giải thành công thì rõ ràng việc mở phiên tòa càng trở nên lãng phí và không cần thiết. Mặt khác, liên quan đến việc xác định “lý do chính đáng” dẫn đến việc đương sự không thể tham gia hòa giải được bao gồm những lý do gì thì cũng chưa được hướng dẫn cụ thể. Do đó pháp luật tố tụng dân sự cần quy định rõ ràng hơn về trường hợp đương sự vắng mặt nhưng có lý do chính đáng khi tham gia hòa giải. Bên cạnh đó, cần xem xét vấn đề cho phép đương sự được quyền yêu cầu Tòa án tiến hành mở lại phiên hòa giải trước khi Tòa án tổ chức xét xử vụ án. Có như vậy, việc giải quyết vụ án sẽ nhanh chóng, đơn giản, ít tốn kém và những chủ thể tiến hành tố tụng khác như Hội thẩm nhân dân và đại diện Viện kiểm sát nhân dân cũng sẽ không phải mất thêm thời gian và công sức để nghiên cứu hồ sơ vụ án.

5.4. Chưa có quy định về hòa giải ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm

Hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm trừ trường hợp không hòa giải được và không được hòa giải được. Vấn đề hòa giải cũng được nhắc đến trong giai đoạn phúc thẩm khi Tòa án hỏi lại các bên có muốn thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Tuy nhiên trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm không có quy định về vấn đề này. Trong các giai đoạn đó, nếu Tòa án tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự, ý nghĩa về giảm bớt chi phí tố tụng và đảm bảo là giải quyết mâu thuẫn triệt để giữa các bên càng phát huy tác dụng.