- 1. Quyền công tố là gì?
- 4. Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
- 2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
- 3. Thực hành quyền công tố, kiểm sát theo quy định của pháp luật
- 5. Ý nghĩa của nguyên tắc trong tố tụng hình sự
- 6. Mối quan hệ giữa nguyên tắc này với các nguyên tắc cơ bản khác
- Kết luận
Nguyên tắc "Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự" là một trong những nguyên tắc trụ cột, xác định vị thế và vai trò trung tâm của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này không chỉ định hình chức năng kép của ngành Kiểm sát mà còn là cơ chế cốt lõi để bảo đảm mục tiêu kép của tố tụng hình sự: vừa đấu tranh hiệu quả với tội phạm, không để lọt tội phạm, vừa bảo vệ quyền con người, quyền công dân, chống làm oan người vô tội.
1. Quyền công tố là gì?
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát nhân dân) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa.
- Đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội.
- Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội.
- Phạm vi quyền công tố được bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị.
Thực hành quyền công tố là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của VKSND trong tố tụng hình sự, nhằm thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Đây là một chuỗi các hoạt động tố tụng được pháp luật quy định chặt chẽ, được thực hiện xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án.
Phạm vi và các hoạt động chính: Phạm vi của chức năng này bắt đầu ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kéo dài qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cho đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Các quyền năng pháp lý cốt lõi bao gồm:
- Giai đoạn tiền khởi tố và điều tra: Yêu cầu khởi tố vụ án; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam của Cơ quan điều tra; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của Cơ quan điều tra; đề ra yêu cầu điều tra để làm rõ các tình tiết của vụ án.
- Giai đoạn truy tố: Đây là giai đoạn thể hiện rõ nhất quyền năng của VKSND. VKSND có thẩm quyền độc quyền ra một trong các quyết định: truy tố bị can trước Tòa án bằng một bản cáo trạng, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án. Quyền quyết định truy tố là một quyền lực pháp lý đặc biệt, không một cơ quan nào khác có được.
- Giai đoạn xét xử: Kiểm sát viên công bố cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày luận tội và các chứng cứ buộc tội, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, và thực hiện quyền tranh tụng với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
- Giai đoạn sau xét xử: Thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án nếu phát hiện có oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Vị thế độc quyền trong việc quyết định truy tố đặt VKSND vào vai trò "người gác cổng" của hệ thống tư pháp hình sự. Quyết định của VKSND có thể kết thúc một vụ án (nếu không truy tố) hoặc khởi đầu một quá trình tố tụng tại Tòa án có thể ảnh hưởng sâu sắc đến sinh mệnh chính trị, danh dự và tài sản của một con người. Chính quyền lực to lớn này tạo ra rủi ro song hành: nếu quyết định sai, có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Rủi ro cố hữu này lý giải tại sao pháp luật phải quy định chặt chẽ chức năng thứ hai – chức năng kiểm sát – như một điều kiện tiên quyết để việc thực hành quyền công tố được thực hiện một cách có trách nhiệm.
4. Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
Đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025 (BLTTHS) thì quy định:
"Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội."
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự qua các hoạt động:
- Khởi tố vụ án: Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của các cơ quan quy định tại khoản này và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra. Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, mặc dù Viện kiểm sát không trực tiếp ra các quyết định khởi tố, nhưng căn cứ các quy định của Bộ luật TTHS thì trong trường hợp khởi tố vụ án, xét cho cùng là do Viện kiểm sát quyết định.
- Khởi tố bị can: Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra phải được gửi cho Viện kiểm sát xem xét phê chuẩn, nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra không còn hiệu lực thực hiện.
- Điều tra vụ án hình sự: Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời thông qua việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý mà pháp luật tố tụng hình sự quy định. Mặt khác, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn này cũng nhằm đảm bảo việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần ngăn chặn kịp thời việc khởi tố bị can một cách không thận trọng, thiếu chính xác.
- Quyết định việc truy tố: Hoạt động truy tố là chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã áp dụng và để loại trừ những hậu quả tiêu cực của các sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong hai giai đoạn tố tụng hình sự trước đó thông qua các quyền năng pháp lý được quy định trong BLTTHS.
- Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử thông qua các hoạt động: Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm.
Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự thông qua các hoạt động: kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; kiểm sát việc khởi tố; các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án và quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật; yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm các bản án, quyết định đó được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự thuộc chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được pháp luật quy định. Hai chức năng này có nội dung, phạm vi và đối tượng và mục đích không giống nhau, nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng và hỗ trợ cho nhau. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự để có chung một mục đích khái quát là nhằm đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
Nếu thực hành quyền công tố là mũi nhọn tấn công tội phạm, thì kiểm sát việc tuân theo pháp luật là tấm khiên bảo vệ pháp chế. Đây là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra, giám sát tính hợp pháp trong hành vi, quyết định của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động tư pháp. Mục tiêu của nó là đảm bảo pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Chức năng kiểm sát được thực hiện song song và bao trùm toàn bộ quá trình tố tụng hình sự:
- Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm: VKSND giám sát Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tuân thủ pháp luật ngay từ khâu đầu tiên của quá trình tố tụng, đảm bảo mọi tin báo được thụ lý, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền.
- Kiểm sát điều tra: Đây là hoạt động kiểm sát trọng tâm, VKSND giám sát mọi hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, từ việc khởi tố, thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đến việc kết thúc điều tra. Mục đích là đảm bảo việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng pháp luật, không bức cung, dùng nhục hình, không vi phạm các quyền của người bị buộc tội.
- Kiểm sát việc xét xử: Tại phiên tòa, VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác. Mối quan hệ giữa VKSND và Tòa án ở giai đoạn này là mối quan hệ vừa phối hợp, vừa chế ước, đảm bảo Tòa án xét xử độc lập, tuân theo pháp luật nhưng vẫn chịu sự giám sát về mặt thủ tục tố tụng.
- Kiểm sát thi hành án hình sự và việc tạm giữ, tạm giam: VKSND kiểm sát việc tuân thủ pháp luật tại các cơ sở giam giữ, trại giam, đảm bảo các chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân được thực hiện đúng quy định, bảo vệ quyền con người của họ.
Để làm rõ hơn sự khác biệt giữa hai chức năng này, có thể so sánh qua bảng sau:
| Đặc điểm | Thực hành quyền công tố | Kiểm sát việc tuân theo pháp luật |
| Mục tiêu | Buộc tội người phạm tội nhân danh Nhà nước. | Đảm bảo tính hợp pháp và thống nhất của pháp luật trong hoạt động tư pháp. |
| Đối tượng | Người bị buộc tội (người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo). | Các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp (Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thi hành án, người tham gia tố tụng...). |
| Phạm vi | Từ khi giải quyết tin báo tội phạm đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. | Song song với toàn bộ hoạt động tư pháp, bao gồm cả tố tụng hình sự, dân sự, hành chính và thi hành án. |
| Công cụ pháp lý chính | Quyết định khởi tố, Cáo trạng, Luận tội tại phiên tòa, Kháng nghị buộc tội. | Yêu cầu, Kiến nghị, Kháng nghị khắc phục vi phạm. |
Chức năng kiểm sát không chỉ dừng lại ở việc phát hiện và xử lý vi phạm trong từng vụ án cụ thể. Nó còn đóng vai trò là một cơ chế kiểm soát chất lượng mang tính hệ thống. Khi phát hiện các vi phạm có tính lặp lại, phổ biến tại một cơ quan tư pháp nào đó, VKSND sẽ ban hành kiến nghị yêu cầu cơ quan đó chấn chỉnh, khắc phục. Thông qua đó, VKSND góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của toàn bộ hệ thống tư pháp, đảm bảo pháp luật được áp dụng thống nhất, phòng ngừa vi phạm một cách chủ động.
3. Thực hành quyền công tố, kiểm sát theo quy định của pháp luật
Nguyên tắc này gắn liền với một chế độ trách nhiệm pháp lý chặt chẽ, áp dụng đối với cả tổ chức và cá nhân khi không thực hiện hoặc thực hiện sai chức năng, nhiệm vụ được giao.
Viện kiểm sát (Tổ chức): Với tư cách là một cơ quan nhà nước, VKSND phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại vật chất và tinh thần gây ra do các quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật của cán bộ, Kiểm sát viên thuộc quyền quản lý của mình.
Viện trưởng (Người đứng đầu): Viện trưởng chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của đơn vị mình, chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra và xử lý các vi phạm của cấp dưới. Một cơ chế đặc biệt được quy định tại Điều 83 Luật Tổ chức VKSND 2014: khi Kiểm sát viên có căn cứ cho rằng quyết định của Viện trưởng là trái pháp luật và đã báo cáo bằng văn bản, nếu Viện trưởng vẫn quyết định thi hành thì Viện trưởng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó, còn Kiểm sát viên chấp hành sẽ không phải chịu trách nhiệm.
Kiểm sát viên (Cá nhân): Mỗi Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định rõ các trường hợp VKSND phải chịu trách nhiệm bồi thường trong tố tụng hình sự, điển hình là :
- Phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với người mà sau đó được xác định là không có hành vi phạm tội.
- Ra quyết định truy tố người mà sau đó Tòa án tuyên không phạm tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Kiểm sát viên vi phạm pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong khi thi hành công vụ sẽ bị xử lý kỷ luật theo các hình thức từ khiển trách, cảnh cáo đến cách chức, buộc thôi việc. Quy trình xử lý kỷ luật tuân thủ các quy định chung đối với công chức, viên chức, chẳng hạn như Nghị định 112/2020/NĐ-CP, bao gồm các bước như tổ chức họp kiểm điểm, thành lập Hội đồng kỷ luật.
Cơ chế "lá chắn trách nhiệm" tại Điều 83 Luật Tổ chức VKSND 2014 là một thiết chế pháp lý tinh vi. Nó giải quyết xung đột tiềm tàng giữa nguyên tắc tuân thủ mệnh lệnh trong một cơ quan có thứ bậc chặt chẽ và trách nhiệm cá nhân của Kiểm sát viên trong việc tuân thủ pháp luật. Bằng cách cho phép Kiểm sát viên từ chối trách nhiệm thông qua một văn bản chính thức, pháp luật đã tạo ra một lối thoát an toàn để bảo vệ tính liêm chính của cá nhân và ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực từ cấp trên.
5. Ý nghĩa của nguyên tắc trong tố tụng hình sự
Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý nghĩa sâu sắc, đóng vai trò như một cơ chế ổn định hệ thống, cân bằng giữa các mục tiêu đôi khi mâu thuẫn của tư pháp hình sự.
Thực hiện mục tiêu kép của tố tụng hình sự: Chức năng công tố đảm bảo yêu cầu "chống bỏ lọt tội phạm" bằng việc chủ động, tích cực truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi phạm tội. Ngược lại, chức năng kiểm sát đảm bảo yêu cầu "chống oan sai" bằng việc giám sát chặt chẽ các hoạt động tố tụng, bảo vệ các quyền hợp pháp của người bị buộc tội, hiện thực hóa triết lý "thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội".
Bảo vệ quyền con người, quyền công dân: Thông qua việc kiểm sát hoạt động bắt, giữ, giam, điều tra, VKSND là cơ quan trực tiếp kiểm soát quyền lực cưỡng chế của Nhà nước, ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân một cách trái pháp luật.
Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa: Nguyên tắc này là công cụ hữu hiệu để đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật. Bằng việc giám sát toàn diện hoạt động tư pháp, VKSND góp phần đảm bảo các cơ quan tư pháp hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, từ đó củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý.
Về bản chất, nguyên tắc này biến VKSND thành một bộ ổn định hệ thống. Trong khi Cơ quan điều tra có xu hướng tập trung vào mục tiêu kiểm soát tội phạm và người bào chữa tập trung vào mục tiêu bảo vệ quyền của thân chủ, VKSND lại được thiết kế để dung hòa cả hai. Nhánh công tố của VKSND đồng hành với mục tiêu của Cơ quan điều tra, nhưng nhánh kiểm sát lại phải đảm bảo rằng quá trình đó không vi phạm các quyền mà người bào chữa có nhiệm vụ bảo vệ. Sự đối trọng nội tại này không phải là một điểm yếu, mà là một đặc điểm thiết kế của hệ thống tư pháp Việt Nam, nhằm tạo ra một sự cân bằng động, hướng tới các phán quyết công bằng và hợp pháp hơn ngay từ giai đoạn tiền xét xử.
6. Mối quan hệ giữa nguyên tắc này với các nguyên tắc cơ bản khác
Nguyên tắc trách nhiệm của VKSND không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ hữu cơ, tương hỗ với các nguyên tắc cơ bản khác được quy định trong Chương II của BLTTHS 2015. Nó không chỉ là một nguyên tắc ngang hàng mà còn là động lực chính để các nguyên tắc khác được hiện thực hóa trên thực tế.
Với Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13): Mối quan hệ này là mật thiết nhất. Nguyên tắc suy đoán vô tội quy định rằng một người được coi là không có tội cho đến khi tội lỗi được chứng minh theo trình tự luật định. Trách nhiệm chứng minh tội phạm của VKSND (theo Điều 15) chính là sự cụ thể hóa của nguyên tắc này. Suy đoán vô tội sẽ chỉ là một khẩu hiệu suông nếu gánh nặng chứng minh không được đặt lên vai cơ quan công tố. Mọi sự nghi ngờ, không rõ ràng hoặc không thể chứng minh được đều phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội.
Với Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội (Điều 16): Chức năng kiểm sát của VKSND bao gồm cả trách nhiệm đảm bảo các cơ quan khác, đặc biệt là Cơ quan điều tra, phải tôn trọng và tạo điều kiện cho người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa của mình. VKSND phải kiểm sát việc các cơ quan này có thông báo đầy đủ quyền cho người bị bắt, bị tạm giữ hay không, có đảm bảo họ được tiếp cận với luật sư hay không. Những thách thức thực tế như thời hạn lấy lời khai ban đầu quá ngắn có thể gây khó khăn cho việc đảm bảo quyền này, càng nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò kiểm sát của VKSND.
Với Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều 21): Nguyên tắc này áp dụng hai chiều đối với Kiểm sát viên. Thứ nhất, bản thân Kiểm sát viên khi thực hiện quyền công tố và kiểm sát phải tuyệt đối vô tư, khách quan. Thứ hai, thông qua chức năng kiểm sát, VKSND có nhiệm vụ giám sát và đảm bảo sự vô tư của các chủ thể khác như Điều tra viên, Thẩm phán. Nếu phát hiện Điều tra viên có dấu hiệu không vô tư, VKSND có quyền yêu cầu thay đổi Điều tra viên đó.
Tóm lại, nguyên tắc trách nhiệm của VKSND là cỗ máy vận hành chính, biến các nguyên tắc tố tụng hình sự khác từ những quy định trên giấy thành hiện thực sống động. Các quyền hiến định như quyền được suy đoán vô tội, quyền bào chữa sẽ khó được bảo đảm trên thực tế nếu thiếu đi hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tích cực, chủ động và có trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân.
Kết luận
Nguyên tắc "Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự" không chỉ là một quy định pháp lý đơn thuần mà là một tư tưởng chỉ đạo, một học thuyết pháp lý định hình toàn bộ vai trò, sứ mệnh và phương thức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Sự kết hợp giữa hai chức năng – công tố và kiểm sát – tạo ra một cơ chế kiểm soát quyền lực nội tại độc đáo, vừa là "thanh gươm" sắc bén của công lý để truy tố tội phạm, vừa là "tấm khiên" vững chắc để bảo vệ pháp chế và quyền con người.
Thông qua việc phân tích sâu sắc nội hàm của từng chức năng, chế độ trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt và mối liên hệ biện chứng với các nguyên tắc tố tụng khác, có thể khẳng định rằng nguyên tắc này là nền tảng để giải quyết mâu thuẫn cố hữu trong tố tụng hình sự: làm sao để vừa trừng trị hiệu quả tội phạm, vừa không làm oan người vô tội. Bằng cách đặt gánh nặng chứng minh lên vai Nhà nước và đồng thời giám sát chính quá trình chứng minh đó, nguyên tắc này đảm bảo rằng quyền lực tư pháp được thực thi một cách có trách nhiệm, khách quan và tuân thủ pháp luật. Đây chính là yếu tố cốt lõi, là trụ cột không thể thiếu trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi công lý, quyền con người và pháp chế được đề cao và bảo vệ.
Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty luật Minh Khuê tư vấn, giải đáp chi tiết.Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!