1. Nhà bố mẹ để lại có bị chia khi ly hôn hay không ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có một thắc mắc muốn nhờ công ty tư vấn giúp như sau: tôi kết hôn năm 2009 và sống cùng bố mẹ, đến năm 2012 bố mẹ tôi mất đi và chúng tôi vẫn tiếp tục ở trong căn nhà đó. Nay vợ chồng tôi muốn ly hôn và vợ tôi muốn đem căn nhà của bố mẹ ra chia đôi,vậy công ty cho tôi hỏi nhà của bố mẹ thì khi ly hôn có phải chia cho vợ hay không?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì sau khi bố mẹ bạn mất thì vợ chồng bạn vẫn đang sống trong căn nhà đó, để xác định xem căn nhà đó có bị chia khi ly hôn hay không phải dựa trên cơ sở khi bố mẹ bạn mất có để lại di chúc hay không, nếu di chúc hợp pháp thì dựa theo nội dung di chúc để xác định phần di sản bạn được hưởng, trong trường hợp bố mẹ di chúc để lại căn nhà cho cả 2 vợ chồng thì đây sẽ là tài sản được thừa kế chung do đó khi vợ chồng bạn ly hôn thì đây sẽ là tài sản chung cần phải phân chia.

Trong trường hợp di chúc chỉ để lại tài sản cho riêng bạn thì đó sẽ là tài sản riêng của bạn, do đó sẽ không phải chia khi ly hôn.

Nếu di chúc không hợp pháp hoặc bố mẹ bạn không để lại di chúc thì căn nhà này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật, tức là sẽ chia đều cho tất cả con đẻ, con nuôi của bố mẹ bạn. Trong trường hợp bạn là người thừa kế duy nhất hoặc bạn có thể thỏa thuận với những người đồng thừa kế khác sẽ phân chia di sản sau khi ly hôn thì thời gian này, do chưa khai nhận di sản thừa kế nên tài sản trên chưa thuộc quyền sở hữu của bạn cũng như chưa được coi là sài sản chung. Vì vậy, trường hợp này khi bạn đi ly hôn thì cũng không phải chia căn nhà do bố mẹ để lại này.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Giải quyết nợ chung và phân chia tài sản khi ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Vợ chồng tôi cưới nhau năm 2011 và có một con gái 26 tháng, sau khi có con chúng tôi ra ở riêng và xây nhà trên đất bố mẹ chồng cho. Ngôi nhà mới xây trị giá khoảng 600 triệu, trong đó bố mẹ chồng có hỗ trợ 1 nửa còn nửa còn lại của vợ chồng tôi và tiền riêng của tôi nhiều hơn của chồng.

Nhà ra ở hơn 2 tháng nhưng ông bà không làm sổ đỏ cho vợ chồng tôi, vẫn chưa tách hộ khẩu riêng. Bố mẹ chồng tôi sợ tôi đòi ly hôn sẽ phải chia tài sản cho tôi nên quyết không bàn giao ngôi nhà và tách sổ đỏ.

Vậy trong trường hợp này tôi phải làm thế nào, tôi có lấy lại được những khoản tôi đã đóng góp trong quá trình làm nhà hay không ? Còn một khoản nợ tôi đứng tên vay mượn khi làm nhà, vậy số nợ đó sẽ giải quyết thế nào khi ly hôn ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.Đ

Theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 quy định:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Theo nguyên tắc khi ly hôn việc phân chia tài sản sẽ thực hiện theo sự thỏa thuận của hai vợ chồng bạn. Nếu không thể thỏa thuận được thì tiến hành phân chia tài sản theo Điều 61 của luật này. Mặc dù vợ chồng bạn ở riêng nhưng sổ hộ khẩu vẫn chung với gia đình nhà chồng nên coi như vợ chồng bạn vẫn sống chung với gia đình khi tính đến việc phân chia tài sản.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Theo như những dữ kiện bạn đưa ra ngôi nhà khoảng 600 triệu đồng trong đó bố mẹ chồng có 1 nửa tức là 300 triệu đồng còn vợ chồng bạn có 300 triệu đồng khi góp vốn vào xây căn nhà đó. Do trường hợp này có thể xác định được số tài sản của vợ chồng bạn có trong khối tài sản chung nên áp dụng khoản 2, Điều 61 là hoàn toàn hợp lý. Sau khi xác định được khối tài sản của 2 vợ chồng trong khối tài sản chung thì tiến hành chia theo khoản 4, Điều 59 do bạn có nói rằng tiền riêng của bạn nhiều hơn của chồng “4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác” Trong trường hợp bạn đã đóng góp nhiều hơn chồng bạn thì có thể yêu cầu chồng bạn thanh toán cho bạn phần mà bạn đã bỏ ra theo quy định tại khoản 4, Điều 159

  • Đối với trường hợp bạn đứng tên vay mượn tiền làm nhà được giải quyết như sau:

Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Do bạn không trình bày rõ là chồng bạn có ủy quyền cho bạn khi thực hiện giao dịch vay tiền hay không nên chúng tôi đưa ra 2 giả thiết. Trường hợp chồng bạn không ủy quyền cho bạn mà bạn tự ý vay tiền theo ý kiến của riêng mình thì giao dịch này thì bạn hoàn toàn phải chịu trách nhiệm. Còn đối với trường hợp vợ chồng bạn cùng thỏa thuận thực hiện giao dịch này nhưng đứng tên bạn thì khi ly hôn chồng bạn vẫn phải lien đới chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản nợ đó

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

3. Khi ly hôn xong có thể chung sống một nhà được không ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi muốn hỏi, khi ly hôn có thể sống cùng 1 nhà được không ? Đảm bảo người chồng không thể động vào người tôi được không?
Tôi xin trân thành cám ơn!
Người gửi: Thanh Nguyễn Việt

Khi ly hôn xong có thể chung sống một nhà được không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để thực hiện ly hôn, bạn cần phải thực hiện thủ tục như sau:

Thứ nhất, bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ ly hôn, bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn (Tham khảo: Mẫu đơn ly hôn đơn phương; Mẫu đơn thuận tình ly hôn)

+ Biên bản hòa giải không thành (áp dụng đối với trường hợp xin ly hôn đơn phương);

+ Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính, của nguyên đơn và bị đơn).

+ Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn.

+ Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

+ Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

+ Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

+ Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn.

Thứ hai, sau khi bạn chuẩn bị xong hồ sơ ly hôn, bạn cần gửi lên tòa án có thẩm quyền giải quyết.

+ Về thẩm quyền theo chung:

Theo quy định tại điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011:

“Điều 33. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 Điều 27 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này”.

Theo đó, Điều 27. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

5. Tranh chấp về cấp dưỡng.

6. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định”.

Do đó, tòa án giải quyết ly hôn cho bạn sẽ là tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc trung ương.

+ Về thẩm quyền theo lãnh thổ:

Căn cứ khoản 1 điều 35 BLTTDS, Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

“a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”;

Như vậy, trường hợp này bạn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại TAND cấp huyện nơi chồng bạn cư trú, làm việc.

Ngoài ra, căn cứ điểm b) khoản 1 điều 35 BLTTDS sửa đổi bổ sung 2011:

“b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”;

Do vậy, vợ chồng bạn còn có thể tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án cấp huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng để giải quyết.

Từ đó, thấy rằng để thực hiện thủ tục ly hôn của bạn có thể:

+ Gửi hồ sơ ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc trung ương nơi chồng bạn cư trú hoặc làm việc.

+ Hoặc vợ chồng bạn thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn Tòa án sẽ giải quyết ly hôn, sau khi thỏa thuận được thì gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mà vợ hoặc chồng đang cư trú hoặc làm việc.

Ngoài ra, trong thời gian giải quyết việc ly hôn nếu như chồng bạn có những hành vi gây ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự,... bạn có thể thực hiện tố cáo với cơ quan công an.

Trân trọng cám ơn!

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Tranh chấp tài sản khi ly hôn giải quyết thế nào ?

Em muốn nhờ Công ty tư vấn cho em trường hợp phân chia tài sản như sau: Bố Mẹ em kết hôn từ năm 1986 (có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn), và có con chung là em (trên 18 tuổi và đã lập gia đình). Hiện tại, Bố Mẹ em đang có mâu thuẫn sâu sắc và có thể dẫn tới ly hôn. Bố em sống không có trách nhiệm và thường xuyên hành hạ, đánh đập, xúc phạm, đối xử tồi tệ với Mẹ em (phạm tội bạo hành trong gia đình). Đỉnh điểm của sự việc là Bố em còn ngoại tình công khai (phạm tội quan hệ bất chính ngoài hôn nhân). Vì không muốn kiện tụng, căng thẳng nên Bố Mẹ em quyết định ly hôn. Nhưng còn vấn đề tài sản, đất đai thì nếu ly hôn sẽ được tòa phân chia như nào. Tài sản cụ thể như sau: Bà nội em có mảnh đất (100m2), và đã cho Bố Mẹ em từ năm 1992 nhưng trên giấy tờ cho chỉ có tên Bố em.

Ngay sau đó Bố Mẹ em bán đi và mua 2 mảnh đất sau:

1: Mảnh đất 75m2 (mua năm 1992), đến năm 2006 mới xây dựng nhà 3,5 tầng. Nhưng mảnh đất này khi làm giấy tờ mua cũng chỉ có tên của Bố em (chưa làm sổ đỏ)

2: Mảnh đất 86,2m2 (mua năm 1992), đến năm 2000 mới xây nhà cho sinh viên thuê. Hiện tại mảnh đất này vừa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ngày 27/12/2014) và khi làm cũng chỉ khai mình tên Bố em.

Vậy nhờ Công ty giải đáp cho em tài sản sẽ được phân chia như nào nếu Bố Mẹ em ly hôn? Với quá trình cho tặng, mua bán như trên liệu có phải là tài sản riêng của Bố em, hay sẽ là tài sản chung của cả 2 Vợ Chồng? (vì theo em biết 2 mảnh đất trên là tài sản phát sinh sau kết hôn) Mong Công ty giải đáp sớm nhất cho Em.

Người gửi: M.K.T

Tranh chấp tài sản khi ly hôn giải quyết thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

+) Về vấn đề chia tài sản sau ly hôn:

Căn cứ Điều 59 LLuật hôn nhân và gia đình 2014 :

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

+)Thêm vào đó điều 33 quy định khá rõ thế nào là tài sản chung và cách xác định tài sản chung:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Tài sản là mảnh đất do bà nội bạn có mảnh đất (100m2), và đã cho Bố Mẹ bạn từ năm 1992 nhưng trên giấy tờ cho chỉ có tên Bố bạn được xác định là tài sản chung, trừ trường hợp bố bạn chứng minh được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Mặc dù có quy định của luật đất đai rằng "đất, nhà phải đăng ký quyền sử dụng, sở hữu":

"Điều 98. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu."

Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung như sau:
“1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều 33 của Luật này”.
Việc mẹ bạn không đứng tên trong sổ đỏ không mất đi quyền lợi của mẹ bạn. Tuy nhiên, do mẹ bạn chưa đứng tên trong sổ đỏ nên mẹ bạn nên làm thủ tục để đứng tên cùng chồng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hai mảnh đất .Mẹ bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy để ghi tên của cả vợ và chồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, cụ thể như sau:
“Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng”.
Việc một người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản không đồng nghĩa với việc tài sản này là tài sản riêng của người đó. Hơn nữa, xác định 2 mảnh đất mới mua này được hình thành từ số tiền chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên cho dù có đứng tên bố bạn thì vẫn được xem là tài sản chung của vợ chồng.
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn thủ tục ly hôn khi vợ/chồng không đồng ý ?

Công ty luật Minh Khuê xin tư vấn thủ tục ly hôn khi vợ/chồng không đồng ý như sau:

Luật sư phân tích:

"Điều 56, Luật hôn nhân và gia đình 2014 Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vây, bạn vẫn có quyền đơn phương gửi đơn yêu cầu xin ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú (theo khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự).

Hồ sơ xin đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con

Lưu ý: Với trường hợp ly hôn với người nước ngoài, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi bạn cư trú sẽ tiến hành giải quyết.

Với trường hợp chồng ngoại tình thì bạn phải đưa ra chứng minh chứng cứ về hành vi ngoại tình. Hiện nay pháp luật quy định về trường hợp xử phạt hành chính theo điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP như sau:

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc ly hôn để vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để trốn tránh nghĩa vụ tài sản.

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đinh 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?