1. Nhận diện từ góc độ tổ chức nhà nước. 

 Nhà nước pháp quyền ( NNPQ) đòi hỏi sự phân định, phân công rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước cả theo chiều dọc, chiều ngang. Tính chất pháp quyền phải được thể hiện trong hoạt động của các thiết chế nhà nước và trong xã hội công dân. Nguyên tắc quản lý xã hội bằng pháp luật là một trong những tiêu chí nhận diện nhà nước pháp quyền nhưng chưa đủ. Khởi thủy của tư tưởng nhà nước pháp quyền là sự phân định rạch ròi, sự sắp xếp và phối hợp giữa các thiết chế quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng cơ chế phân định, phân công trong tổ chức quyền lực nhà nước không các mục đích tự thân mà nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự độc đoán, chuyên quyền và vi phạm quyền con người. Cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho sự đảm bảo tự do chính trị trong hoạt động nhà nước và xã hội. 
Nhận diện NNPQ từ phương diện lập pháp được thể hiện tập trung ở chất lượng, tính khoa học, nhân văn của các sản phẩm lập pháp - các đạo luật pháp quyền và ở hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. 
Cần nhận diện NNPQ từ phương diện của nền hành chính quốc gia. Đây là lĩnh vực hoạt động liên quan trực tiếp, thường xuyên nhất đến mọi cá nhân, tổ chức và xã hội, diễn ra liên tục trong mọi không gian và thời gian, sôi động hơn rất nhiều so với hoạt động lập pháp và tư pháp. Năng lực, tinh nhuệ, tiết kiệm, hợp pháp; hợp lý và hiệu quả, giải quyết, phản ứng một cách kịp thời, nhanh chóng các vấn đề nảy sinh trong xã hội - đó là những tiêu chí, tố chất cơ bản nhất của nền hành chính trong NNPQ. 
Trong NNPQ, tư pháp có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng bởi nơi đó là sự thể hiện rõ nét nhất nền công lý và sự bình đẳng trước pháp luật Nền tư pháp XHCN của chúng ta phải thực sự vì dân, xứng đáng với sự tin cậy của người dân gửi gắm việc giải quyết những vấn đề thiết thực của mình về tài sản, danh dự, nhân phẩm cho các cơ quan đại diện cho công lý. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: ''''nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác, là vấn đề ở đời và làm người” và ''''các phán quyết của toà án phải thấu tình đạt lý''''. 

2. Nhận diện từ phương diện pháp luật. 

Trong NNPQ, pháp luật có vị trí, vai trò hàng đầu trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản. Vai trò hàng đầu của pháp luật được đảm bảo bằng nhiều cách trong đó có việc xác lập và thực hiện sự kiểm soát tính tối cao của các đạo luật. Trong hệ thống pháp luật, các đạo luật phải chiếm ưu thế. Sự thống trị (ngự trị) của pháp luật đòi hỏi nhà nước phải xuất phát từ những yêu cầu khách quan của xã hội mà định ra pháp luật và chính bản thân cũng phải phục tùng pháp luật 
Trong NNPQ cần phân biệt luật và pháp luật. Luật chỉ là hình thức tồn tại của pháp luật và nó sẽ mất đi tính pháp quyển nếu nó không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, những nguyên tắc đó phải thể hiện được các giá trị cao cả: tự đo, bình đẳng, công bằng, nhân đạo. NNPQ không thể thông qua bất kỳ đạo luật nào mà chỉ có thể thông qua những đạo luật phù hợp với tiến bộ xã hội và các giá trị nhân văn chung, chỉ khi đó, đạo luật mới mang tính pháp quyền. Pháp luật trong NNPQ cần quy định cơ chế đảm bảo thực hiện nguyên tắc: được làm tất cả trừ nhũng gì luật cấm - đối với khu vực tư và: chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép - đối với công quyền. Một hệ thống pháp luật đúng, tốt sẽ là hệ thống pháp luật nêu được những phương án cho sự lựa chọn các hành xử phù hợp quy luật, lợi ích cá nhân và trật tự xã hội. 
NNPQ cần được nhận diện từ phương diện tự do và trách nhiệm - trách nhiệm pháp lý vả trách nhiệm đạo đức. Trong điều kiện NNPQ, tự do được mở rộng đối với mỗi cá nhân, tự do được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Trong xã hội hiện đại, tự do càng rộng thì trách nhiệm càng cao và chặt chẽ. Sự can thiệp sâu; cụ thể của nhà nước vào hoạt động của xã hội và đời sống cá nhân được hạn chế lại song vai trò và trách nhiệm xã hội của nhà nước lại càng ngày gia tăng với tư cách là tổ chức công quyền. 
Nhân đạo là một trong thống nguyên tắc, tiêu chí nhận diện của NNPQ, là xu thế chung của nhân loại tiến bộ. 
Minh bạch, công khai là thuộc tính để bổ sung cho sự nhận diện NNPQ, pháp luật cần dễ hiểu, thống nhất, dễ vận dụng, dễ dàng truy cập, có độ tin cậy cao.Nhà nước phải đáp ứng nhu cầu thông tin về pháp luật, về các hoạt động thực tiễn pháp lý cho cá nhân và tổ chức. 
Tính thứ bậc về hiệu lực pháp lý cần được coi trọng trong NNPQ. Trên thực tế, còn nhiều các quy định của văn bản dưới luật lại được ''''vô tư áp dụng mặc dù trái với quy định của văn bản luật. 
Nhận diện nhà nước pháp quyền từ mối quan hệ giữa nhà nước vả pháp luật. Trước đây, do nhiều lý do, nhà nước dường như được xác định là đứng "trên, cao hơn, ưu thế hơn, trội hơn'''' so với pháp luật; nhà nước coi pháp luật chỉ như công cụ cai trị của riêng mình. Tuân thủ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật trong mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong NNPQ đã không còn chỗ đứng cho tư duy chính trị - pháp lý nói trên. NNPQ khác nhà nước cực quyền ở việc nhà nước thừa nhận giá trị xã hội, tính phổ biến bắt buộc chung của pháp luật, sự ngự trị của pháp luật trong các quan hệ xã hội: chỉ khi nào nhà nước được thiết lập như một tổ chức pháp lý hoạt động trên cơ sở pháp luật thì khi đó tư tưởng NNPQ mới thực sự trở thành hiện thực. 

3. Nhà nước pháp quyền nhìn từ góc độ con người 

Mục đích cao cả, nhiệm vụ thường trực của nhà nước pháp quyền không gì khác hơn là vì CON NGƯỜI. Nhân tố con người, hệ thống các quyền và tự do của con người phải được quy định trong pháp luật, có cơ chế hữu hiệu đảm bảo thực hiện trên nguyên tắc thống nhất quyền và nghĩa vụ, tự do và trách nhiệm, phát huy tính tích cực, sáng tạo của con người. Khi ban hành văn bản hay một hành vi pháp lý nào đều phải đặt câu hỏi: có phục vụ quyền lợi và có thuận lợi nhất cho người dân không. Cần kết hợp hài hoà những phẩm chất tự nhiên của cá nhân với tư cách là một thực thể tự nhiên và xã hội trong xây dựng và áp dụng pháp luật. Tất cả vì con người, theo hướng có lợi cho con người cần được trở thành hiện thực - đây cũng là một trong những tiêu chí để nhận diện NNPQ. Nguyên tắc này dường như mới chỉ quan tâm trong lĩnh vực tư pháp hình sự. 
NNPQ được hiểu là sự đối lập với nhà nước cực quyền, chuyên chế, độc tài, do vậy xây dựng NNPQ không thể thiếu được quá trình dân chủ hoá. Dân chủ là một trong những đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền, một trong những yếu tố cơ bản để ''''nhận diện'''' nhà nước pháp quyền và trình độ phát triển của xã hội. Trong mối tương quan giữa pháp luật và dân chủ, pháp luật xác lập những khuôn khổ cho việc thực hiện dân chủ, bản thân pháp luật cũng phải phản ánh trong mình các giá trị dân chủ. Một văn bản luật tốt là thu hút được sự tham gia của nhân dân, đảm bảo cho người dân tự giác tuân thủ pháp luật, vì dân chúng tuân theo luật phải là người làm ra luật. 
Pháp luật là hiện tượng văn hoá, là công cụ giữ gìn văn hoá. Đời sống kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế tác động đến ý thức pháp luật của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận cư dân trong xã hội, ý thức pháp luật trong NNPQ tất yếu sẽ mang ''''bản sắc'''' của NNPQ, bản sắc của một xã hội đã được tổ chức ở trình độ cao. 
Cần nhận diện NNPQ từ tính chất pháp quyền của mối "liên hệ giữa cá nhân, nhà nước và xã hội. Sự bình đẳng pháp lý, đạo đức, đồng trách nhiệm giữa nhà nước, cá nhân vừa là yêu cầu, vừa là tiêu chí nhận diện NNPQ. Trong xã hội pháp quyền, vai trò của nhà nước và dịch vụ công cùng các nhu cầu về bảo đảm an toàn, an ninh không ngừng tăng lên. Nhu cầu về công lý, về hoạt động xét xử cũng tăng lên rất mạnh. Nhu cầu này, người dân chờ đợi không ngoài ai khác là từ chính nhà nước. Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là nhà nước dần dần thu hẹp phạm vi hoạt động của mình để tập trung nhiều hơn vào chức năng hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, xây dựng môi trường pháp lý cho các thành phần kinh tế - xã hội hoạt động. 
 

4. Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước: Của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và yêu cầu thượng tôn pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội. Quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nguyên tắc tập trung dân chủ. Là nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, tất cả vì hành phúc của con người. Do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng và phát triển với nhân dân các dân tộc và các nước trên thế giới, đồng thời tôn trọng các công ước, điều ước quốc tế đã tham gia ký kết, phê chuẩn.

4.1. Biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ

 Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ. Dân chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước.Tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung đều bao hàm hai thành tố tập trung và dân chủ. Hai thành tố đó không hề đối lập nhau mà có mối quan hệ biện chứng với nhau và cùng phát triển theo tỷ lệ thuận. Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện.

4.2. Được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

 Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh những mối quan hệ cơ bản đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập Hiến, mọi hệ thống pháp luật đều có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội.

4.3. Đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động

 Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.

Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp.

Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng. Mô hình quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ những điều luật cấm.

4.4. Quyền lực được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ

Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực. Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước.

4.5.  Nhà nước pháp quyền gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp.

 

Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng, do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh.

Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc và chủ thể của các hành vi này. Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.

Ngoài ra Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước luôn được giới hạn trong các mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội.