1. Khái niệm indigentia của Thomas Aquinas

Là học trò xuất sắc của Albertus, Thomas Aquinas, thực ra không hề mâu thuẫn với thầy mình, nhưng ông nhanh chóng nhận ra mình phải cải thiện thuyết lao động của Albertus, ông tìm ra phương pháp làm điều này bằng cách nhấn mạnh nhu cầu con người (indigenlia). Thomas tìm hiểu vấn đề này ở Thánh Augustine, nhận thấy con người không phải lúc nào cũng xếp hạng vạn vật theo trật tự tự nhiên. Augustine đùa giỡn với thuyết chủ quan bằng cách cho rằng con người thường xem châu báu có giá trị lớn hơn người hầu gái (xem phần trên). Nhưng Thomas lại nghĩ đến bài học của Thánh Augustine. Trong khi Augustine bàn về trật tự tự nhiên và mang lại sự tương phản trong sự trao đổi kinh tế, thì Thomas thực hiện trái ngược, mang kinh tế học về trật tự tự nhiên. Mặc dù, Augustine có phần nào sắc sảo. Thực ra Aquinas không phân biệt giữa nhu cầu và sự thích thú - một tiếp cận có thể làm tăng tốc sự phát triển thuyết nhu cầu ban đầu nếu Aquinas chọn. Thay vào đó, Aquinas lại chọn cách chèn vào kinh tế học của ông lời dạy luân lý, một yếu tố có khuynh hướng xem nhẹ sự thích thú. Do đó, thuyết nhu cầu của Aquinas không bao giờ vượt khỏi khái niệm đơn giản về sự hữu dụng hàng hóa khi so sánh với vị trí của chúng trong trật tự hình thành tự nhiên.

Sự đóng góp chính thức của Aquinas đối với thuyết giá trị của Aristotle là sự đóng góp hai mặt trong dó yếu tố này được yếu tố kia quyết định. Trước tiên, ông tái khẳng định cách đánh giá kép hàng hóa (giá trị sử dụng so với giá trị trao đổi) mà Aristotle đã xác lập, thứ hai ông đưa nhu cầu (indigentia) vào công thức tính giá. Sự đóng góp sau cùng này đặc biệt quan trọng vì nó đánh dấu nguồn gốc thuyết giá trị phân tích nhu cầu. Aquinas cho rằng giá trị biến đổi theo nhu cầu. Indigentia trở thành một tác nhân điều tiết giá trị. Thế nhưng, sự đóng góp này hoàn toàn hình thức. Aquinas không giải thích thuật ngữ, ông chỉ đơn thuần tạo sự liên kết giữa nhu cầu và giá cả. Nhưng sự liên kết có giá trị như lời mời những người ủng hộ Aristotle sau này phải phát triển một thuyết giá trị hoàn hảo hơn, sau cùng họ đã làm được. Trong phân tích triết học Kinh viện tiếp theo sau Aquinas, khái niệm indigentia dần dần mở rộng thành nhu cầu hiệu quả, tính hiệu dụng và thậm chí mong muôn tuyệt đôi.

2. Sự tập hợp và khan hiếm: Ảnh hưởng của Henry xứ Friemar

Aquinas phát triển khái niệm indigentia theo cách chủ yếu quy cho cá nhân. Nhưng quan niệm nhu cầu hiện đại là một quan niệm tập hợp theo nghĩa nó bao gồm nhu cầu của tất cả những người mua nào tham gia thị trường. Bước kế tiếp trong truyền thống triết học Kinh viện là nhận thức indigentia như một cách đánh giá tập hợp, một giai đoạn do thầy dòng Âu tinh (Augustinian) tên Henry xứ Friemar đảm trách.

Khi được các nhà triết học Kinh viện sử dụng, khái niệm indigentia không giống như nhu cầu thị trường theo nghĩa kỹ thuật trong kinh tế học đương đại. Không phải là số lượng ra yêu cầu như một hàm giá cả, mà ý nghĩa của nó ít nhiều chính xác hơn bao gồm các yếu tố cung cũng như cầu. Ý nghĩa gắn bó thông thường nhất với khái niệm trong tác phẩm triết học Kinh viện là “lượng mong muốn liên quan đến những gì khả dụng” (nghĩa là nhu cầu đối mặt với sự khan hiếm). Bây giờ khi chúng ta thừa nhận điều này dễ dàng như thế thì tiến triển phân tích thật sự trong thuyết giá trị yêu cầu tách hai khái niệm “cung” và “cầu”. Không tách cung cầu thành các yếu tố trong công thức giá trị là khuyết điểm cơ bản trong mô hình thị trường của Aristotle. Thật không may, khuyết điểm không bao giờ được các nhà triết học Kinh viện khắc phục, bất kể truyền thống rất bao quát của nó. Thực tế, khắc phục lại còn lâu hơn những gì đang đến, phải chờ sự phát triển đầy đủ của hiệu dụng biên tế trong thế kỷ 19.

Tuy sự tiến triển chậm nhưng dù sao cũng do những nhà triết học Kinh viện tiến hành. Aquinas liều lĩnh chuyển phân tích của Albertine hướng về yếu tố cầu thay vì phí tổn, vì thế Henry đặt công thức của Thomas thiên về tổng cầu (nghĩa là thị trường). Henry đề xướng một khái niệm có phần hỗn hợp giá trị được xác định bởi “nhu cầu chung của một món hàng nào đó khan hiếm”, một khái niệm thừa nhận với điều kiện có sự dồi dào khi đối mặt với nhu cầu lớn, indigentia sẽ không tăng giá cả.

Như Odd Langholm chỉ rõ, thuyết giá trị trao đổi bắt đầu ở bất kỳ giai đoạn nào trong sô' ba giai đoạn suy luận. Có thể bắt đầu bằng điều kiện thị trường, nghĩa là với sự dồi dào của hàng hóa khan hiếm. Như một sự lựa chọn, giá trị trao đổi bắt đầu bằng thuộc tính hàng hóa làm cho điều kiện thị trường có liên quan. Sau cùng, có thể bắt đầu bằng nhu cầu của người tạo ra những thuộc tính trong hàng hóa liên quan, từ đó thúc đẩy điều kiện thị trường. Thuyết Trung cổ, bắt nguồn từ mảnh đất Aristotle và tồn tại trong nền kinh tế hiện đại, bắt đầu ở giai đoạn thứ ba. Mặc dù những người theo triết học Kinh viện không đơn độc trong việc thảo luận vấn đề kinh tế trong mối quan hệ với nhu cầu của con người, họ xứng đáng với công trạng:

“Đưa khái niệm này thông qua sự tổng hợp và khan hiếm vào lập luận công thức giá cả” (Langholm, Price and Value, trang 115).

3. Vài nét về Jean Buridan

Jean Buridan ( tiếng Pháp: [byʁidɑ̃] ; tiếng Latinh : Johannes Buridanus ; khoảng  1301 - c.  1359/62 ) là một nhà triết học người Pháp thế kỷ 14 có ảnh hưởng.

Buridan là giáo viên khoa nghệ thuật tại Đại học Paris trong suốt sự nghiệp của mình, đặc biệt tập trung vào logic và các tác phẩm của Aristotle . Buridan đã gieo mầm của cuộc cách mạng Copernicus ở châu Âu. Ông đã phát triển khái niệm về sức đẩy , bước đầu tiên hướng tới khái niệm quán tính hiện đại và là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử khoa học thời trung cổ. Tên của ông được biết đến nhiều nhất qua thí nghiệm suy nghĩ được biết đến với cái tên Buridan's ass ; tuy nhiên, thử nghiệm tư tưởng này không xuất hiện trong các tác phẩm còn tồn tại của ông.

4. Nhu cầu hiệu quả: Đóng góp của Jean Buridan

Buridan là người ủng hộ Aristotle. Ông là bậc thầy về logic có nhiều đóng góp cho khoa học xã hội và triết học với khoảng 30 bài bình luận công trình của Aristotle. Chính Buridan là người vận dụng khái niệm indigentia của triết học Kinh viện gần với khái niệm nhu cầu hiệu quả hơn. Ông mô tả sự đói nghèo là một tình trạng trong đó một người không có những gì mà họ muốn, đến nỗi indigentia có thể áp dụng cho “những hàng xa xỉ” cũng như bao gồm ý nghĩa “sự cần thiết” theo Thomas thiển cận hơn. Ngoài ra, Buridan cũng đưa indigentia thành sự mong muốn được hậu thuẫn bởi khả năng thanh toán.

Sự bổ sung này có vẻ như không đáng kể nhưng mở đường thoát ra khỏi vấn đề dễ cáu trong thuyết giá trị Trung cổ. Cả hai người Aquinas và John Duns Scotus, giáo sĩ cấp cao của ông là những phát ngôn viên đối với “nguyên tắc kép” trong thuyết giá cả thời Trung cổ. Một người bán hàng có thể tặng không hàng hóa với sự hy sinh khác thường, do sự chúc phúc của các cha cố trong nhà thờ, bù lại phần lỗ bằng cách tính giá cao hơn giá bình thường. Nhưng trong trường hợp hy sinh là điều bình thường, ông không thể ra giá cao để tăng lợi nhuận. Trong trường hợp sau, Aquinas lập luận bằng việc kiếm lời quá đáng, kết quả người bán bán một món hàng nào đó không phải là của mình (cơ sở hợp lý tương tự áp dụng cho sự kết án của triết học Kinh viện đối với sự cho vay nặng lãi). Duns Scotus cho rằng một món hàng bản thân nó không đáng giá chỉ vì sự ưa thích của người mua. Thực chất trong mỗi lập luận ở chỗ thật là sai lầm khi lợi dụng nhu cầu bức thiết của người mua.

Có một số vấn đề trong nguyên tắc kép này. Một vấn đề cụ thể là sự bất đối xứng phân tích cơ bản. Đối với người bán, điều hợp lý khi người bán làm một điều gì đó nếu có nhu cầu cao nhưng không làm việc tương tự nếu người mua có nhu cầu cao. vấn đề khác là làm cách nào định nghĩa “nhu cầu cao bất thường”. Vay mượn của Aquinas và Henry xứ Friemar, Buridan đề xuất dòng tư tưởng phân biệt giữa “nhu cầu” cá nhân và tổng “nhu cầu”. Ông liên kết giá trị với tổng cầu, qua đó ông muốn đề cập nhu cầu thực tế, và cho rằng sự kết hợp số lượng người tiêu dùng và sức mua của họ sẽ thành lập một trạng thái buôn bán công bằng và bình thường trong thương trường. Vì thế, người mua dù có túng thiếu chăng nữa phải tuân theo sự định giá của thị trường. Đây là dòng tư tưởng rất giống với giá trị đạo đức bất can thiệp của Nicholas Barbon và Thomas Hobbes trong nhiều thế kỷ sau đó, Thomad Hobbes tuyên bố rằng “thị trường là người am hiểu giá trị nhất”. Vì thế, ở chừng mực nhất định, truyền thống triết học Kinh viện vẫn còn đúng đối với ý nghĩa nguyên thủy của Aristotle, chúng ta còn lại với kết luận không có chỗ trong luân lý xã hội “trái tim rỉ máu” của Aristotle.

5. Điều thú vị trong thành tựu của Buridan

Điều thú vị trong thành tựu của Buridan là trong một khuôn khổ Aristotle thừa nhận sự biến hình của khái niệm - indigentia - thiển cận thời Trung Cổ, ban đầu mang ý nghĩa nhu cầu mơ hồ, thành sự khái quát hóa bừa bãi, “mỗi mong muốn thúc đẩy chúng ta cho vào kho một số hàng”. Chính khái niệm này mà thuyết giá cả ở châu Âu - đối lập với thuyết giá trị cổ điển của Anh - có được sự thành công sau này. Buridan làm nảy sinh truyền thống điều tra kinh tê' lan tỏa không những ở quê hương ông, nước Pháp mà sau cùng ở Ý và đặc biệt nhất là ở Áo. Truyền thông này, với các xúc tu bằng mọi cách vươn trở lại Aristotle, đạt đỉnh điểm trong việc hình thành thuyết Hiệu dụng trong thế kỷ 19, sau cùng trong cuộc hôn phối của khái niệm sau cùng này với khái niệm biên tế. Thành công này không phải là phần nhỏ được giải thích bằng:

“Sự nhấn mạnh vào thuyết Hiệu dụng như một kinh nghiêm tâm lý, làm giảm tầm quan trọng sự cân nhắc thuộc tính trong hàng hóa khiến cho con người phải thèm muốn chúng, một định kiến chắc chắn đưa những nhà lý thuyết rời xa điểm chính” (Langholm, Price and Value, trang 144).

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)