Đảng ủy khối doanh nghiệp tỉnh đã công bố quyết định thành lập đoàn thanh tra xuống công ty làm việc. (hiện nay đang điều tra). Do nhân viên này đang rất cay cú về việc bị tôi xử lý cách chức trưởng phòng (do dính tới tiêu cực). Việc tố cáo của nhân viên này hoàn toàn không có bằng chứng để chứng minh cho lời nói của mình. Đồng chí A làm trưởng đoàn về đã thanh quyết toán và kiểm tra lại thì toàn bộ chứng từ đều hợp lý, hợp pháp, đúng với chế độ của công ty. Bản thân tôi nhận thấy đồng chí A không hề chi tiêu sai theo chế độ và Đảng ủy khối họ cũng đồng ý như thế và cho rằng việc quyết định thành lập đoàn thanh tra chi là thủ tục. Vậy tôi xin hỏi:

- Việc nhân viên tố cáo sai sự thật sẽ bị xử lý như thế nào? Có chế tài nào hay cách nào để ngăn chặn việc tố cáo sai sự thật của nhân viên này không? 

- Chúng tôi nên làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích cho doanh nghiệp và uy tín lãnh đạo. 

Xin tư vấn luật sư. Cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Nhân viên tố cáo sai sự thật sẽ bị xử lý như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

 

Trả lời:

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

 

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi tới công ty. Vấn đề của bạn, Công ty xin giải đáp như sau: 

Cơ sở pháp lý: 

Luật tố cáo 2011

Bộ Luật Hình sự 1999

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, biện pháp xử lý đối với hành vi tố cáo sai sự thật của nhân viên công ty. 

Theo Khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo 2011 quy định:

>> Xem thêm:  Tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần làm như thế nào ? Hồ sơ, thủ tục tăng vốn

"1. Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức".

Hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo: trong trường hợp này áp dụng theo Khoản 10 Điều 8 Luật tố cáo 2011:

"10. Cố ý tố cáo sai sự thật; kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; mạo danh người khác để tố cáo".

Nghĩa vụ của người tố cáo tại Khoản 2 Điều 9 Luật tố cáo 2011:

"2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;

d) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra".

Nhân viên này khi tố cáo đã vi phạm những nghĩa vụ phải thực hiện khi tiến hành tố cáo. nhân viên trong công ty kiện đồng chí A là Bí thư Đảng ủy (CTHĐQT) - về việc: năm 2014 đồng chí A làm trưởng 1 đoàn đi tham quan nghỉ mát đã khai khống số tiền từ 600.000 đồng/1phòng thành 2.000.000 đồng. Nhân viên này gửi đơn kiện lên Đảng ủy khối doanh nghiệp tỉnh. Việc tố cáo của nhân viên này hoàn toàn không có bằng chứng để chứng minh cho lời nói của mình. Đồng chí A làm trưởng đoàn về đã thanh quyết toán và kiểm tra lại thì toàn bộ chứng từ đều hợp lý, hợp pháp, đúng với chế độ của công ty. 

>> Xem thêm:  Trách nhiệm pháp lý của cổ đông công ty cổ phần dựa trên vốn điều lệ ?

Nhân viên đó phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý như sau:

Tại Điều 48 Luật tố cáo 2011 quy đinh: Xử lý hành vi vi phạm đối với người tố cáo và những người khác có liên quan

"Điều 48. Xử lý hành vi vi phạm đối với người tố cáo và những người khác có liên quan

Người tố cáo và những người khác có liên quan có hành vi quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 Điều 8 của Luật này hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật".

Ta thấy, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Về xử phạt hành chính tại Điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác".

Về trách nhiệm dân sự:

Theo Điều 604 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

>> Xem thêm:  Phân tích ưu nhược điểm khi thành lập công ty cổ phần và công ty TNHH 2 thành viên?

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó".

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo Điều 605 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 605Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường".

Cụ thể tại Điều 611 Bộ luật dân sự 2005 quy định về:  Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm  

"Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm  

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

>> Xem thêm:  Tư vấn về thời hạn giải quyết tố cáo ?

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định". 

Tùy tính chất nghiêm trọng của hành vi của nhân viên gây ra và có đủ căn cứ cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp trên có thể bị áp dụng theo Điều 122 Bộ luật hình sự 1999 về tội vu khống.

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

>> Xem thêm:  Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo ?

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích cho doanh nghiệp và uy tín lãnh đạo khi bị tố cáo sai sự thật.

Theo Khoản 1 Điều 25 Luật tố cáo quy định: Việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo sau khi có kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:

"1. Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm quy định trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật".

Khi đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra. Việc này được thông báo bằng văn bản để các bên phải thực hiện. Cụ thể người tố cáo sai sự thật sẽ tiến hành xin lỗi và tiến hành bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. 

Trường hợp bên bị tố cáo muốn khởi kiện thì đơn khởi kiện \ phải được gửi đến TAND cấp quận/huyện nơi người bị kiện - bị đơn, đang cư trú hoặc làm việc. Mặt khác, bạn phải gửi kèm theo đơn khởi kiện là những tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của bạn là có căn cứ và hợp pháp. Nếu như không chứng minh được cho yêu cầu của bạn là có căn cứ và hợp pháp thì Tòa án sẽ không nhận đơn khởi kiện.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

>> Xem thêm:  Nội dung điều lệ công ty cổ phần thế nào là hợp pháp ?

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ.

 

>> Xem thêm:  Kinh doanh thực phẩm với mô hình siêu thị Mini có cần giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm?