1. Nhiệm kỳ thẩm phán

Nhiệm kỳ phục vụ của thẩm phán cũng có ảnh hưởng tới sự độc lập của tư pháp, bởi lẽ khi được bảo đảm về công việc, thẩm phán có thể đưa ra phán quyết mà không phải bận tâm tới phúc lợi cá nhân và nghề nghiệp của mình. Sự bảo vệ mang tính chính trị ở đây không đóng vai trò gì và có thể phá vỡ mục tiêu sự độc lập tư pháp. Dạng thức mạnh mẽ nhất của sự bảo vệ mang tính pháp lý trong trường hợp này là nhiệm kỳ suốt đời, như được ghi nhận trong Hiến pháp Argentina và Estonia. Dạng thức bảo vệ ở cấp độ thấp hơn là tiêu chuẩn về độ tuổi về hưu, tiêu chuẩn này thúc đẩy sự độc lập của tư pháp bằng cách loại bỏ quan ngại của thẩm phán về việc tái bổ nhiệm. Các dạng thức khác bao gồm quy định về nhiệm kỳ dài hạn, hoặc quy định về nhiệm kỳ khởi đầu ngắn và sau đó nhiệm kỳ tiếp theo kéo dài suốt đời. Mặc dù quy định thẩm phán có nhiệm kỳ dài sẽ tăng cường sự độc lập của tư pháp, nó cũng có thể làm suy yếu tính chịu trách nhiệm giải trình của tư pháp đối với cả các nhánh quyền lực khác và với cử tri. Một nhiệm kỳ ngắn và chế độ tái bổ nhiệm hiển nhiên có hiệu ứng trái ngược: thẩm phán sẽ cần phải công tác có hiệu quả để giữ công việc của mình - điều sẽ được quyết định bởi cơ quan bổ nhiệm hoặc tái bổ nhiệm - nhánh hành pháp hoặc đôi khi là cử tri. Ở Guatemala, thẩm phán Tòa án tối cao có nhiệm kỳ 5 năm, sau đó họ phải được tái bầu bởi quốc hội để tiếp tục công việc. Ở Nhật Bản, thẩm phán Tòa án Tối cao được bổ nhiệm bởi Nội các, nhưng được người dân xem xét lại sau khi được chọn và cứ 10 năm tiếp theo đó. Cuối cùng, một cách thiết kế khác về giới hạn nhiệm kỳ của thẩm phán trong tòa án cấp cao nhất là quy định về việc không được bầu lại hoặc bổ nhiệm lại. Đây là trường hợp của các thành viên của Tòa án Hiến pháp Đức, họ sẽ phục vụ nhiệm kỳ 12 năm mà không có khả năng được bầu lại (các quy định này được tìm thấy trong luật liên bang quy định về Tòa án Hiến pháp chứ không phải trong Hiến pháp Đức).

2. Bãi nhiệm thẩm phán

Vấn đề bằng cách thức nào hoặc trong hoàn cảnh nào một thẩm phán bị bãi nhiệm cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự độc lập của tòa án. Để duy trì việc áp dụng pháp luật khách quan và không thiên vị, thẩm phán phải không bị ảnh hưởng bởi khả năng bị bãi nhiệm hoặc thuyên chuyển tùy tiện. Tuy nhiên, bởi cũng có trường hợp thẩm phán thực sự đáng bãi nhiệm, nhiều hiến pháp quy định một cách rõ ràng nhưng giới hạn những trường hợp thẩm phán có thể bị bãi nhiệm. Một số bản hiến pháp trao cho các chủ thể chính trị thẩm quyền phù hợp để bãi nhiệm thẩm phán. Ví dụ như Hiến pháp Albania cho phép cơ quan lập pháp có thể ảnh hưởng đến sự bãi nhiệm đó. Ở Gambia, Tổng thống, với sự tư vấn của Hội đồng Nhân sự Tư pháp có thể chấm dứt sự bổ nhiệm của một thẩm phán tòa án tối cao, trong khi Quốc hội được trao quyền trong quá trình xem xét để bãi nhiệm thẩm phán trên cơ sở những vi phạm của họ. Càng có nhiều các chủ thể tham gia, càng có khả năng các lực lượng chính trị đang cạnh tranh nhau có thể ngăn chặn sự bãi nhiệm không chính đáng các chức danh thẩm phán. Ở Ấn Độ, việc bãi nhiệm thẩm phán đòi hỏi phải có sự phê chuẩn của cả Nghị viện và nhánh hành pháp.Mặc dù cách quy định này không loại trừ những khả năng có sự lạm dụng chính trị, việc yêu cầu cần có sự thỏa hiệp giữa các nhánh quyền lực sẽ làm giảm thiểu khả năng lạm dụng đó. Càng có nhiều các chủ thể tham gia, càng có khả năng các lực lượng chính trị đang cạnh tranh nhau có thể ngăn chặn sự bãi nhiệm không chính đáng. Có sự tham gia của nhánh tư pháp trong quy trình bãi nhiệm cũng là một cách bảo vệ sự độc lập của tư pháp. Các dạng thức bảo vệ pháp lý khác ngăn ngừa sự bãi miễn tùy tiện bao gồm việc trao quyền giám sát quá trình bãi nhiệm cho một cơ quan độc lập.

3. Sự tham gia của nhánh tư pháp trong quy trình bãi nhiệm

Có sự tham gia của nhánh tư pháp trong quy trình bãi nhiệm cũng là một cách bảo vệ sự độc lập của tư pháp. Hội đồng tư pháp hoặc hội đồng nhân sự tư pháp có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm thẩm phán, có thể đóng vai trò như người gác cổng ngăn chặn sự bãi nhiệm dựa trên những động cơ chính trị. Một cách thức tham gia khác của tư pháp trong quá trình bãi nhiệm - theo đó bảo vệ sự độc lập của tư pháp và sự tập trung hóa quyền lực của nhánh tư pháp - là, như Thụy Điển, yêu cầu sự bãi nhiệm cần phải có sự ủng hộ của nhánh tư pháp. Hiến pháp Đức tạo ra sự bảo vệ pháp lý tương tự để bảo đảm sự độc lập của tư pháp bằng cách quy định rằng việc bãi nhiệm, thuyên chuyển hoặc đình chỉ thẩm phán không thể được thực hiện nếu không có một quyết định tư pháp ủng hộ sự bãi nhiệm đó hoặc nếu không tuân thủ chặt chẽ quy trình bãi nhiệm. Việc luận tội một thẩm phán liên bang Đức – bãi nhiệm một thẩm phán đã vi phạm những nguyên tắc của Luật Cơ bản (Hiến pháp) hoặc của trật tự hiến pháp – yêu cầu sự tham gia của lập pháp và sự ủng hộ của hai phần ba thành viên Tòa án Hiến pháp đối với sự bãi nhiệm đó. Như vậy, Đức đã xây dựng một hàng rào quan đáng kể - bao gồm sự phân tản quyền lực cho nhiều cơ quan, cũng như cả sự bảo vệ pháp lý lẫn chính trị - ngăn chặn việc bãi nhiệm thẩm phán chỉ dựa trên những động cơ chính trị, từ đó tăng cường đáng kể sự độc lập tư pháp. Các dạng thức bảo vệ pháp lý khác ngăn ngừa sự bãi nhiệm tùy tiện bao gồm việc trao quyền giám sát quá trình đó cho một cơ quan độc lập và tạo ra những sự bảo vệ mang tính miễn trừ. Croatia chỉ định các cơ quan độc lập để quyết định những trường hợp bãi nhiệm thẩm phán như trên. Những điều khoản trao quyền miễn trừ cho thẩm phán khi họ hành động trong phạm vi thẩm quyền của mình cũng đồng thời nhắm tới việc ủng hộ quá trình ra quyết định độc lập của tư pháp. Mặt khác, điều khoản miễn trừ nếu được áp dụng không chính xác sẽ có thể làm gia tăng tham nhũng và ngăn ngừa tính chịu trách nhiệm giải trình của tư pháp. Sự độc lập của tư pháp đòi hỏi không chỉ những quy định chính thức nêu trên mà còn cần có sự cam kết của các nhà lãnh đạo chính trị đối với pháp quyền – cam kết chịu sự ràng buộc bởi những điều khoản hiến pháp và các quyết định tư pháp. Các nhánh quyền lực khác cũng phải tránh viện tới sự tham gia của tư pháp vào việc giải quyết các tranh chấp chính trị hoặc các hoạt động khác ngoài phạm vi thẩm quyền chủ yếu của tư pháp là giải quyết các tranh chấp và giải thích luật.

4. Nhánh tư pháp độc lập và thực hiện đúng chức năng

Nhánh tư pháp độc lập và thực hiện đúng chức năng của mình cũng đòi hỏi cần xem xét yếu tố thực tế cần thiết, chẳng hạn như cần có sự hỗ trợ tài chính thích hợp. Trong khi những điều khoản hiến pháp ủng hộ sự độc lập và không thiên vị của tư pháp, nhánh hành pháp cũng phải thực thi những biện pháp để chống tham nhũng, thi hành các quyết định tư pháp và củng cố niềm tin của cộng đồng đối với nhánh tư pháp. Trong khi hiến pháp thường đề cao tính minh bạch khi nói đến chức năng của nhánh tư pháp – như quyền được xét xử công khai – các biện pháp của lập pháp và hành chính cũng phải đồng thời củng cố tính minh bạch đó, đặc biệt về khía cạnh thủ tục tư pháp và quá trình chọn lựa và bổ nhiệm thẩm phán. Để duy trì việc áp dụng pháp luật khách quan và không thiên vị, thẩm phán phải không bị ảnh hưởng bởi khả năng bị bãi nhiệm hoặc thuyên chuyển tùy tiện. Nhiều hiến pháp quy định một cách rõ ràng nhưng giới hạn những trường hợp thẩm phán có thể bị bãi nhiệm. Sự độc lập của tư pháp đòi hỏi không chỉ những quy định chính thức nêu trên mà còn cần có sự cam kết của nhà lãnh đạo chính trị đối với pháp quyền – cam kết chịu sự ràng buộc bởi những điều khoản hiến pháp và các quyết định tư pháp. Các nhánh quyền lực khác cũng phải thực thi những biện pháp để chống tham nhũng, thi hành các quyết định tư pháp và củng cố niềm tin của cộng đồng đối với nhánh tư pháp.

5. Đa nguyên pháp luật

Phần cuối cùng của chương này sẽ xem xét khái niệm đa nguyên pháp luật (legal pluralism). Sự đa nguyên pháp luật thường được quy định trong hiến pháp các quốc gia có sự chia rẽ xã hội, nơi mà các nhóm khác nhau ủng hộ các quy phạm hoặc hệ thống pháp luật đối chọi nhau. Bằng việc công nhận nhiều quy phạm pháp luật, nhiều hệ thống pháp luật và nhiều nguồn luật cùng tồn tại trong một quốc gia, hiến pháp có thể tạo một địa vị pháp lý đặc thù cho những nhóm nhất định hoặc những khu vực nhất định. SSa nguyên pháp luật cũng cho phép các nhà lập hiến thừa nhận những hệ thống pháp luật “bên lề”– những hệ thống dựa trên những quy phạm tôn giáo hoặc tập quán bản địa – và tạo cơ hội trao quyền cho những nhóm thiểu số và để hợp pháp hóa và lưu giữ những chuẩn mực và truyền thống văn hóa. Đặc biệt, trong bối cảnh hậu xung đột, việc công nhận của hiến pháp đối với nhiều nguồn luật có thể giải quyết cơ bản các căng thẳng, mâu thuẫn xã hội. Hơn thế nữa, bởi đa nguyên pháp luật không chỉ cho phép sự tồn tại của nhiều nguồn pháp luật mà còn sự hiện hiện của nhiều hệ thống tòa án, nó tạo cơ hội cho sự đa dạng khi thực thi công lý. Bằng việc phi tập trung hóa việc thực thi công lý, đa nguyên pháp luật cũng tăng khả năng cho công lý được thực thi tại cấp vùng hoặc địa phương thông qua tòa án nơi có sự gắn bó hơn đối với cộng đồng mà họ phục vụ. Tuy nhiên đa nguyên pháp luật cũng đem lại những thách thức: các nhà lập phải xây dựng một khuôn khổ hiến pháp và một hệ thống pháp luật đồng bộ từ những hệ thống pháp luật khác hẳn nhau, đôi khi xung đột nhau. Để cho nhiều tiểu hệ thống pháp luật cùng hoạt động tốt, các nhà lập hiến phải xác định phạm vi của mỗi hệ thống pháp luật và xác định được các quyền cơ bản có thể được áp dụng tại tất cả hệ thống. Trước khi đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi này, đầu tiên chúng ta cần khảo sát các nguồn luật đa dạng có thể tạo nên một hệ thống pháp luật. Đối lập với đa nguyên pháp luật là hệ thống pháp luật thống nhất - sự công nhận mang tính hiến pháp đối với chỉ một hệ thống pháp luật. Mặc dù các nhà lập hiến có thể tìm ra trong hệ thống pháp luật thống nhất đó các quy phạm pháp luật ở nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả các quy phạm tôn giáo và luật quốc tế, nhưng trong hệ thống này, hiến pháp chỉ hợp pháp hóa một cơ chế giải thích và thực thi pháp luật. Hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa/dân luật (civil law) là hệ thống pháp luật phổ biến nhất, trong đó luật thành văn là nguồn luật chủ yếu. Các thẩm phán trong hệ thống pháp luật này áp dụng các điều khoản hiến pháp và các các đạo luật để đưa ra phán quyết. Trái lại, trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ/thông luật (common law), thẩm phán không chỉ căn cứ các đạo luật và các điều khoản hiến pháp mà còn dựa vào các tiền lệ pháp lý bao gồm các quan điểm pháp lý của các thẩm phán và là án lệ có tác dụng ràng buộc thẩm phán tòa án cấp dưới khi gặp những tình tiết tương tự. Mặc dù vậy, có trường hợp không phải tuân theo các tiền lệ này và các vụ án có tình tiết khác biệt dù nhỏ không bị buộc áp dụng các tiền lệ đó. Trong hệ thống thông luật, luật pháp là tập hợp các án lệ đối với một vấn đề cụ thể. Theo nghĩa đó, thông luật tự thay đổi hoặc phát triển qua thời gian. Hệ thống tập quán, thường là không thành văn, phát triển từ các chuẩn mực xã hội, các thói quen, các tục lệ của một cộng đồng nhất định, chẳng hạn như luật của người bản địa (luật tục) hay luật tôn giáo - dựa trên các giáo lý và thực hành tôn giáo. Hệ thống luật tôn giáo có phạm vi rộng lớn nhất đó là Sharia hay luật Hồi giáo, nguồn chủ yếu của nó là Kinh Qur’an và các lời dạy của Sunnah. Dù Sharia là nguồn pháp luật duy nhất ở nhiều quốc gia, nó thường tồn tại song hành với các hệ thống khác trong khuôn khổ của đa nguyên pháp luật. Đa nguyên pháp luật còn thúc đẩy tính chính danh của tư pháp. Nhiều hệ thống pháp luật có thể tồn tại trong một quốc gia bất kể có sự công nhận của hiến pháp hay không, đặc biệt là ở các quốc gia có sự đa dạng về tôn giáo hoặc dân tộc. Các hệ thống đó có nguồn gốc lâu đời và được áp dụng bởi cộng đồng dân cư. Tương tự, những quốc gia từng là thuộc địa thường có nhiều hệ thống pháp luật cùng vận hành bởi chính quyền thực dân đã áp dụng phần nào hệ thống pháp luật của họ, như áp dụng các quy định luật thương mại, trong khi vẫn tiếp tục duy trì hệ thống pháp luật truyền thống của quốc gia đó. Do vậy, phần lớn các bản hiến pháp trong thực tế không áp đặt hoặc thiết lập đa nguyên pháp luật, mà đúng hơn là chấp nhận hoặc đưa nhiều hệ thống pháp luật vào trật tự hiến pháp hiện hành. Sức mạnh và tính chính danh của nhánh tư pháp chủ yếu dựa vào sự nhìn nhận của các nhánh chính trị và người dân. Sự nhìn nhận thức đó sẽ bị ảnh hưởng khi trật tự hiến pháp không công nhận hệ thống pháp luật thực tế đang được sử dụng và được người dân chấp hành - và sẽ làm suy yếu hiệu lực thi hành của các quyết định tư pháp, vốn dựa trên trật tự hiến pháp được thiết lập trước đây. Chính vì vậy, đa nguyên pháp luật có thể thúc đẩy quyền lực của nhánh tư pháp. Tuy nhiên, như đã được đề cập trên đây, đa nguyên pháp luật cũng đồng thời tạo ra những thách thức lớn lao. Thứ nhất là vấn đề thẩm quyền: tòa án nào sẽ có thẩm quyền phán xử những vụ án nào và đối với chủ thể nào? Đôi khi một hệ thống pháp luật như vậy chỉ có thể được áp dụng trên cơ sở các yếu tố tôn giáo. Điều này thường xuất hiện trong hệ thống liên bang, nơi mà mỗi khu vực áp dụng một hệ thống pháp luật riêng, và mỗi khu vực có thẩm quyền đối với những vấn đề trong phạm vi khu vực đó mà không thuộc thẩm quyền của chính quyền liên bang. Trong một dạng thức khác của đa nguyên pháp luật, một hay nhiều hệ thống pháp luật có thể được áp dụng riêng cho một nhóm người dựa trên tư cách thành viên. Cách quy định như vậy có thể, nhưng không phải lúc nào cũng vậy, có yếu tố khu vực. Ví dụ, các nhóm người bản xứ có thể có quyền duy trì và áp dụng luật bản xứ đó như một phần của việc hiến pháp trao cho lãnh thổ đó quyền tự trị. Trong một số hiến pháp khác, việc áp dụng luật tôn giáo để giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên của tôn giáo đó được cho phép, ví dụ như ở Ấn Độ. Việc áp dụng một hệ thống pháp luật cũng chỉ giới hạn đối với một số lĩnh vực pháp luật có phát sinh tranh chấp. Ví dụ, luật tôn giáo và tòa án tôn giáo có thể quy định về các vấn đề nhất định trong luật gia đình.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )