Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong hoạt động tố tụng hình sự, bao gồm cả công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, được xây dựng trên nền tảng pháp lý cao nhất là Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND thực hiện hai chức năng hiến định: thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự là một bộ phận cấu thành của hoạt động tư pháp, và do đó, việc kiểm sát công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo đảm pháp chế, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp.

Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015, tại Chương XXXIII (từ Điều 469 đến Điều 483), đã kế thừa và phát triển các quy định này. So với BLTTHS 2003, phạm vi kiểm sát của VKSND được quy định rõ ràng và bao quát hơn. Theo đó, VKSND có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo một cách xuyên suốt, "từ khi Cơ quan điều tra tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi có bản án, quyết định của Tòa án". Điều 483 BLTTHS 2015 là điều luật trụ cột, quy định cụ thể các nhiệm vụ và quyền hạn pháp lý của VKSND để thực thi chức năng hiến định này.

1. Nhiệm vụ của Viện kiểm sát khi giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Khoản 1 Điều 483 BLTTHS 2015 quy định các nhiệm vụ cụ thể của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các nhiệm vụ này bao gồm:

- Tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo: Đây là nhiệm vụ "cửa ngõ", có ý nghĩa then chốt trong việc kích hoạt cơ chế bảo vệ quyền của cá nhân, tổ chức. Công tác này không đơn thuần là thủ tục hành chính, mà là một hoạt động tố tụng, đòi hỏi Kiểm sát viên phải phân định rõ ràng pháp lý của đơn. Theo các quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát, VKSND phải phân loại đơn thành các nhóm chính: đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát; đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát; đơn không thuộc thẩm quyền và đơn không đủ điều kiện xử lý, giải quyết.

  • Nếu đơn thuộc thẩm quyền giải quyết, VKS thụ lý giải quyết.
  • Nếu đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác (Cơ quan điều tra, Tòa án), VKS thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết.
  • Nếu đơn không thuộc thẩm quyền, VKS phải "trả lại đơn... đồng thời hướng dẫn gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết". Việc phân loại và xử lý sai (ví dụ: trả lại đơn thuộc thẩm quyền) là một vi phạm tố tụng, tước đi quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.

- Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, Tòa án và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Đây là nhiệm vụ kiểm sát trọng tâm, thể hiện rõ chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. VKSND không chỉ kiểm sát nội dung giải quyết (quyết định giải quyết có căn cứ và hợp pháp hay không) mà còn phải kiểm sát toàn diện về thủ tục, bao gồm:

  • Kiểm sát việc thụ lý: Đảm bảo các cơ quan tuân thủ quy định về tiếp nhận, thụ lý, không "ém" đơn, không từ chối thụ lý trái pháp luật.
  • Kiểm sát trình tự, thủ tục: Đảm bảo việc xác minh, đối thoại, ban hành quyết định giải quyết tuân thủ đúng trình tự luật định.
  • Kiểm sát thời hạn: Đảm bảo các khiếu nại, tố cáo được giải quyết trong thời hạn luật định (ví dụ: thời hạn quy định tại Điều 475 BLTTHS), tránh tình trạng kéo dài, gây bức xúc.

Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Bên cạnh nhiệm vụ kiểm sát, VKSND trực tiếp giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các trường hợp sau:

  • Khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của người có thẩm quyền thuộc VKSND (Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng).
  • Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng Cơ quan điều tra (giải quyết khiếu nại lần hai).
  • Khiếu nại đối với một số quyết định của Thủ trưởng Cơ quan điều tra (ví dụ: khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án của Thủ trưởng CQĐT).
  • Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm...). BLTTHS 2015 đã làm rõ thẩm quyền này so với sự thiếu rõ ràng của BLTTHS 2003.

- Kiểm sát việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật: Nhiệm vụ này bảo đảm tính thực thi và hiệu lực trên thực tế của các quyết định. Một quyết định giải quyết khiếu nại (ví dụ: kết luận một lệnh bắt người là trái pháp luật và yêu cầu hủy bỏ) nếu không được thi hành nghiêm túc thì mục đích của việc giải quyết khiếu nại không đạt được. VKSND phải kiểm sát để đảm bảo các cơ quan liên quan nghiêm túc thi hành các quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Tổng hợp và báo cáo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo: Đây là nhiệm vụ mang tính quản lý nhà nước và lập pháp, giúp VKSND cấp trên và các cơ quan có thẩm quyền (như Quốc hội) nắm được tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp, từ đó có biện pháp chấn chỉnh kịp thời hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật.

2. Các quyền hạn của Viện kiểm sát khi giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Để thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 483 BLTTHS 2015 trao cho Viện kiểm sát các quyền hạn pháp lý (công cụ) cụ thể. Đây là những công cụ quyền lực, bảo đảm cho hoạt động kiểm sát có hiệu lực và hiệu quả.

Yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo: Đây là quyền hạn nền tảng. Hoạt động kiểm sát phải dựa trên hồ sơ, tài liệu. VKSND có quyền yêu cầu bắt buộc các cơ quan, cá nhân (bao gồm cả CQĐT, Tòa án) phải cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ vụ việc. Việc từ chối, trì hoãn cung cấp hồ sơ, tài liệu cho VKSND là hành vi cản trở hoạt động tư pháp và phải bị xử lý.

Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan có thẩm quyền: Quyền hạn này cho phép VKSND thực hiện các hoạt động kiểm sát chủ động, tại chỗ (on-site) thay vì chỉ kiểm sát "trên giấy" (qua báo cáo, hồ sơ). VKSND có thể tiến hành kiểm sát đột xuất hoặc định kỳ, làm việc trực tiếp với người có thẩm quyền, người khiếu nại, nghiên cứu hồ sơ gốc tại trụ sở cơ quan bị kiểm sát.

Ban hành kết luận kiểm sát: Đây là một quyền hạn quan trọng, được quy định rõ trong BLTTHS 2015. Kết luận kiểm sát là văn bản pháp lý chính thức của VKSND, được ban hành sau khi tiến hành trực tiếp kiểm sát hoặc xem xét hồ sơ, trong đó chỉ rõ các vi phạm (nếu có) của cơ quan được kiểm sát, phân tích rõ đúng/sai và yêu cầu khắc phục. Văn bản này có giá trị pháp lý cao hơn một công văn trao đổi thông thường và là cơ sở để VKSND thực hiện các quyền kiến nghị, kháng nghị.

Thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu cơ quan, cá nhân khắc phục vi phạm. Đây là nhóm quyền can thiệp pháp lý mạnh mẽ nhất của VKSND.

  • Kiến nghị: Được sử dụng khi VKSND phát hiện vi phạm trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cơ quan hữu quan khắc phục vi phạm đó. Cơ quan nhận được kiến nghị phải xem xét, thực hiện và trả lời VKSND.
  • Kháng nghị: Được sử dụng trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, hoặc khi kiến nghị không được tiếp thu. Kháng nghị là một văn bản tố tụng yêu cầu bắt buộc cơ quan bị kháng nghị phải xem xét, đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định, hành vi trái pháp luật.

Yêu cầu đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ quyết định giải quyết không có căn cứ và trái pháp luật. Đây là hệ quả trực tiếp của quyền kháng nghị. Khi VKSND xác định một quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo (ví dụ: quyết định của Thủ trưởng CQĐT) là "không có căn cứ và trái pháp luật", VKSND có quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định đó để khôi phục quyền lợi hợp pháp cho người khiếu nại.

Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Quyền hạn này thể hiện vai trò kiểm soát "kép". Nếu bản thân quá trình giải quyết khiếu nại có vi phạm (ví dụ: Thủ trưởng CQĐT ra quyết định giải quyết khiếu nại nhưng quyết định đó lại vi phạm pháp luật), VKSND có quyền thụ lý, giải quyết khiếu nại đối với chính quyết định giải quyết khiếu nại đó.

3. Trách nhiệm của Viện kiểm sát khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn

Việc trao cho Viện kiểm sát các nhiệm vụ, quyền hạn lớn tại Điều 483 đồng thời cũng yêu cầu một cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng khi VKSND, Viện trưởng, hoặc Kiểm sát viên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ chức trách của mình. Cơ chế trách nhiệm này được bảo đảm trên cả phương diện nghiệp vụ và trách nhiệm cá nhân công chức.

3.1. Trách nhiệm về mặt nghiệp vụ 

Bản thân ngành Kiểm sát phải có cơ chế tự kiểm tra, tự sửa sai. Luật Tổ chức VKSND 2014 đã khẳng định VKSND có trách nhiệm phải "tiếp nhận và giải quyết kịp thời" khiếu nại, tố cáo.4 Nếu VKSND cấp dưới ban hành một quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo không có căn cứ, trái pháp luật, thì VKSND cấp trên phải có cơ chế can thiệp.

Quyết định số 222/QĐ-VKSTC ngày 22/6/2023 của Viện trưởng VKSND tối cao (thay thế Quyết định 51/QĐ-VKSTC-V12), ban hành "Quy chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp", đã quy định rõ cơ chế này. Quy chế này có quy trình "kiểm tra lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật". Theo đó:

  • Nếu phát hiện quyết định giải quyết của VKSND cấp dưới có "vi phạm pháp luật nghiêm trọng" hoặc có "tình tiết mới", VKSND cấp trên có quyền "hủy bỏ và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới giải quyết lại".
  • Cơ chế này tập trung vào việc sửa chữa vụ việc, đảm bảo quyết định cuối cùng của VKSND phải đúng pháp luật, qua đó khôi phục quyền lợi cho người khiếu nại.

3.2. Trách nhiệm cá nhân 

Nếu Kiểm sát viên, Viện trưởng (với tư cách là công chức, viên chức) có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thực thi nhiệm vụ (ví dụ: cố ý không thụ lý đơn, ban hành quyết định giải quyết trái pháp luật gây thiệt hại, làm sai lệch hồ sơ...), họ phải chịu trách nhiệm cá nhân.

Trách nhiệm kỷ luật: Các cá nhân vi phạm sẽ bị xem xét xử lý kỷ luật theo các quy định chung về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Các văn bản pháp lý chính điều chỉnh lĩnh vực này là Nghị định số 112/2020/NĐ-CP và Nghị định số 71/2023/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định 112).

Các nghị định này quy định rõ nguyên tắc xử lý kỷ luật (bao gồm cả nguyên tắc xử lý kỷ luật hành chính phải tương xứng với kỷ luật về đảng), thời hiệu, thời hạn và các hình thức kỷ luật. Quyết định kỷ luật sẽ được "lưu giữ trong hồ sơ" và "ghi vào lý lịch" của công chức.

Trách nhiệm hình sự: Trong trường hợp hành vi vi phạm có đủ yếu tố cấu thành tội phạm (ví dụ: Tội ra quyết định trái pháp luật, Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội...), người có thẩm quyền của VKSND còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tóm lại, hệ thống trách nhiệm được thiết kế song song: trách nhiệm nghiệp vụ (thông qua Quyết định 222/QĐ-VKSTC) để bảo đảm quyết định được sửa sai, và trách nhiệm cá nhân (thông qua Nghị định 71/2023) để bảo đảm con người vi phạm bị xử lý.

Kết luận

Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đóng vai trò là cơ sở pháp lý trụ cột, xác định rõ vị thế và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp liên quan đến khiếu nại, tố cáo. Phân tích điều luật cho thấy rõ "vai trò kép" của Viện kiểm sát: vừa là chủ thể trực tiếp giải quyết các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, vừa là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết của các cơ quan tư pháp khác như Cơ quan điều tra và Tòa án.

Đáng chú ý, thẩm quyền của Viện kiểm sát mang tính bao trùm và xuyên suốt toàn bộ các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Các quyền hạn cụ thể được trao tại Khoản 2 Điều 483, như quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ, quyền trực tiếp kiểm sát, và đặc biệt là quyền ban hành kiến nghị, kháng nghị , là những công cụ pháp lý sắc bén. Những công cụ này bảo đảm cho Viện kiểm sát thực thi hiệu quả chức năng hiến định là kiểm sát hoạt động tư pháp.   

Việc nhận thức đầy đủ, chính xác và thực thi nghiêm túc các nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 483 là yếu tố then chốt để bảo đảm hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự được khách quan, minh bạch, đúng pháp luật, qua đó bảo vệ quyền con người, quyền công dân và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty luật Minh Khuê tư vấn, giải đáp chi tiết.Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!