1. Tự do hóa thương mại là gì?

Thương mại tự do (free trade) là nền thương mại quốc tế trong đó các hoạt động thương mại diễn ra mà không vấp phải bất kỳ hàng rào cản trở nào như thuế quan, hạn ngạch hoặc các biện pháp kiểm soát hối đoái được đặt ra để cản trở sự di chuyển tự do của hàng hóa và dịch vụ giữa các nước. Mục đích của tự do hóa thương mại là tận dụng các mối lợi của chuyên môn hóa quốc tế. Tổ chức thương mại thế giới WTO) và tiền thân của nó là GATT, cũng như nhiều hiệp định khu vực khác như khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung cũng tìm cách thúc đẩy tự do thương mại với tư cách mục tiêu chính sách của cộng đồng quốc tế.

- Chính sách thương mại tự do thường thúc đẩy các điểm sau:

+ Buôn bán hàng hóa không có thuế (bao gồm thuế hải quan) hoặc các rào cản thương mại khác (ví dụ: hạn ngạch nhập khẩu hoặc trợ cấp cho nhà sản xuất)

+ Kinh doanh dịch vụ không có thuế hoặc các rào cản thương mại khác

+ Sự vắng mặt của các chính sách "bóp méo thương mại" (chẳng hạn như thuế, trợ cấp, quy định hoặc luật) cung cấp cho một số doanh nghiệp, hộ gia đình hoặc yếu tố sản xuất một lợi thế so với các doanh nghiệp khác

+ Khả năng gia nhập thị trường không bị kiểm soát

+ Khả năng truy cập thông tin thị trường một cách tự do

+ Không có các công ty có khả năng làm biến dạng thị trường thông qua sức mạnh độc quyền nhóm hoặc độc quyền do chính phủ áp đặt

+ Các hiệp định thương mại khuyến khích giao dịch tự do.

2. Quan điểm về nền tự do thương mại thời kỳ phong kiến Quân chủ

Thương mại chữa lành được các định kiến có tính phá hoại. Hầu như có một quy luật chung là ở đâu có phong tục thuần dịu thì ở đó có thương mại, và ở đâu có thương mại thì ở đó có thuần phong mỹ tục.

Không lạ gì phong tục của ta bây giờ ít hung dữ hơn ngày xưa. Thương mại đã làm cho người ta hiểu biết về phong tục các nước và so sánh với nhau. Đó là điều rất hay.

Có thể nói rằng các luật thương mại trau dồi cho phong tục tốt lên và làm mất đi những phong tục xấu. Platon (nhà triết học người Athen trong thời kỳ Cổ điển ở Hy Lạp cổ đại) than phiền rằng thương mại làm đồi bại các thuần phong mỹ tục. Thật ra thương mại đã làm cho phong tục các dân tộc dã man trở nên tinh tế và thuần hơn. Đó là điều ta thấy hàng ngày.

Tác dụng tự nhiên của thương mại là đưa tói hoà bình. Hai nước đang buôn bán sẽ trở thành phụ thuộc lẫn nhau: Nếu bên này mua có lợi thì bên kia bán cũng có lợi, và mọi khối liên kết đều dựa trên những nhu cầu "có người có ta".

Nhưng nếu thương mại liên, kết được các nước thì nó không liên kết được các cá nhân đâu. Chúng ta thấy rằng ở các nước chụyên về thương mại người ta buôn bán tất cả mọi chuyện trên đời, buôn bán cả đức tính con người nữa. Những cái nhỏ nhất mà xã hội người cần đến đều có thể đem đổi lấy đồng tiền.

Tinh thần thương mại tạo cho con người một ý thức về công bằng đúng mức. Một mặt nó phản đối cướp bóc, mặt khác nó phản đối đạo đức đơn thuần khiến người ta không muốn tranh chấp gay gắt về mình mà sao nhãng lợi ích người khác.

Nơi nào hoàn toàn không có thương mại thì sinh ra cướp bóc. Theo Aristote (một nhà triết học và bác học thời Hy Lạp) cưỡng bức cũng là một trong những biện pháp để thu hoạch. Tinh thần thương mại đôi khi trái với một vài đức tính tốt. Ví dụ: Tính hiếu khách ít thấy ở các dân tộc thương mại nhưng lại thường thấy ở các dân tộc cướp bóc.

3. Các dân tộc đặt nền móng cho tự do thương mại trên thế giới

Marseille (một thành phố cảng của nước Pháp) là nơi ẩn náu cẩn thiết giữa một vùng biển bão tố. Marseille, nơi mà gió, bãi cát, bờ biển đều thuận lợi cho thuyền cập bến, vốn đã được các người đi biển qua lại luôn. Đất đai cằn cỗi đã buộc dân địa phương này làm nghề buôn bán kinh tế. Họ phải chăm chỉ làm ăn để bù vào chỗ thiên nhiên bạc đãi họ. Họ phải công bằng để sống được giữa những dân tộc man rợ đã làm cho họ được thịnh vượng. Họ phải chừng mực để cho việc cai trị luôn luôn được yên ổn. Cuối cùng họ phải có những phong tục và nếp sống thanh đạm để nếu gặp lúc buôn bán thua lỗ vẫn có thể duy trì thương mại.

ở đâu có bạo lực và phiền hà thì ở đó nảy sinh ra thương mại kinh tế, khi con người phải lẩn tránh vào các đầm lầy, ra hải đảo, xuống đáy biển hay các vùng có mỏm đá ngầm. Chính vì thế mà vùng đất Venise (Thuộc Italia) và các thành phố Hà Lan được thiết lập. Những người trốh tránh tìm thấy an ninh ở các nơi này. Họ phải sống. Họ kiếm đồ nuôi sống mình từ khắp nơi trên thế giới.

Nước Anh không có mức thuế được thương lượng với các nước. Mức thuế của họ thay đổi có thể nói là tuỳ ở mỗi viện, có quyền định mức thuế hay miền thuế. Nước Anh giữ cái đó là để giữ quyền độc lập của mình. Cạnh tranh một cách đế vương với các nước về thương mại, nước Anh ít chịu ràng buộc bởi các hiệp định, và chỉ phụ thuộc vào luật của họ.

Một số nước khác đặt lợi ích thương mại dưới lợi ích chính trị; nước Anh thì luôn đặt lọi ích chính trị dưới lợi ích thương mại.

Đây là một dân tộc trên địa cầu biết dành ưu thế trên ba lĩnh vực lớn: Tộn giáo, thương mại và tự do.

4. Các yếu tố cản trở tự do thương mại

Ở đâu có thương mại, ở đó có thuế quan. Mục đích của thương mại là xuất và nhập cảng những hàng hoá có lợi cho Nhà nước. Mục dích của quan thuế là giữ một số quyền trong việc xuất nhập cảng củng để làm lợi cho Nhà nước. Vậy thì Nhà nước phải trung lập giữa thương mại và thuế quan, khiến cho hai phía này không chồng chéo nhau. Có như vậy mới hưởng được cái lợi của tự do thương mại.

Ngành tài chính phá hoại thương mại bằng cách làm bất công, nhũng nhiễu, thu thuế quá mức. Nó còn phá hoại thương mại bằng những thể lệ phiền hà, thủ tục rắc rọi.

Ở Anh quan thuế được quản lý khiến cho việc thương lượng buôn bán được dễ dàng. Một chữ viết làm nên đại sự; người nhà buôn không phải mất thời gian liên miên, cỏ những nhân viên kiểm tra để chấm dứt những khó khăn do người thu thuế gây ra, hoặc- buộc người thu thuế phải nghiêm lệ làm nhiệm vụ, không được dễ dãi quá.

Khi người Bồ Đào Nha và người Castille (là một trong những vương quốc thời Trung cổ trên bán đảo Iberia) thống trị vùng Tây Ấn Độ, có những ngành thương mại béo bở đến nỗi các công hầu đều muốn nắm lấy. Điều này đã làm cho mấy xí nghiệp của nhà buôn bị phá sản. Phó vương vùng Goa (là một tiểu bang của Ấn Độ) cho phép tay chân mình được hưởng đặc quyền quá đáng. Dân không tin tưởng gì ở bọn này. Việc buôn bán bị gián đoạn vì người quản lý cứ thay đổi xoành xoạch, không ai lo toan chu đáo việc buôn bán, và họ chẳng sợ mất mát cho người sau. Tiền lãi vào tay tư nhân mà thương mại quốc gia chẳng

5. Chính sách về thương mại hàng hóa trên các thuộc địa của các quốc gia thời kỳ phong kiến Quân chủ

Trên thế giới lúc này lúc khác thường xảy ra tình huống làm cho thương mại thay đổi. Ngày nay thương mại Châu Âu chủ yếu là giữa Bắc với Nam. Khí hậu Nam, Bắc khác nhau khiến cho hai vùng cần có những hàng hoá của nhau. Ví dụ những hàng hoá từ Nam lên Bắc tạo ra thương mại mà ngày xưa không hề có. Hàng hoá ngày xưa trên tàu là lúa mì đong bằng đấu, nay là các thứ rượu tính bằng thùng lớn. Thương mại ngày xưa mà ta biết được là chở từ cảng này đến cảng kia ở Địa Trung Hải, hầu như chỉ trong miền Nam với nhau. Thế mà khí hậu các vùng ở đây đều giống nhau, sản phẩm giống nhau, nên không có nhu cầu thương mại như với các vùng khí hậu khác nhau, cho nên thương mại Châu Âu ngấy xưa không phát triển như ngày nay.

Thương mại ngày xưa khi thì bị phá hoại bởi những kẻ cạnh tranh, khi thì bị vúa chúa cản trở. Buôn bán quá đường bộ, trốn tránh chỗ nào cũng bị đàn áp, chỉ dám dừng lại ở chỗ nào người ta cho thở được. Còn như ngày nay, thưong mại ngự trị ngay ở vùng sa mạc, ở trên biển và ngay ở những vùng mõm đá lởm chởm.

Vùng Colchide (là tên của một khu vực thuộc miền nam Kavkaz, nằm ở bờ đông biển Đen, trung tâm nằm trên miền tây đất nước Gruzia ngày nay) bây giờ chỉ còn là một khu rừng mênh mông, dân số giảm sút hàng ngày, hàng hoá chỉ bán lẻ cho người Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư. Chẳng ai nhớ rằng thòi Rome cổ đại nơi đây là những phố phường vẫy gọi các nước đến buôn bán. Nay chỉ còn lại dấu vết các lâu đài được ghi trong sử sách của Pline và Strabon (một sử gia, nhà địa lý và triết gia Hy Lạp cổ đại).

Lịch sử thương mại là lịch sử quan hệ giữa các dân tộc. Những bước suy thoái, những cuộc thăng trầm tạo nên biết bao sự kiện lớn trong lịch sử thương mại thế giới.

Có thể nói: La bàn mở hướng ra vũ trụ: Người ta tìm thấy Châu Âu và Châu Phi mà trước kia chỉ mới biết qua phía ngoài bờ; rồi tìm thấy Châu Mỹ trước kia chưa biết tí gì.

Người Bồ Đào Nha bơi trên Đại Tây Dương, tìm ra mỏm cực Nam Châu Phi. Họ quay lại, qua biển lớn, tới vùng Đông Ấn Độ. Nỗi gian truân của họ được thơ ca ghi lại có vẻ như anh hùng ca Odyssée (là một trong hai bài thơ sử thi lớn của Hy Lạp cổ đại được cho là của Homer) và Énéide (nhan đề sử thi La văn do tác gia Vergilius soạn giai đoạn 29-19 TCN).

Người Vénétie (là một trong 20 vùng của Ý) đã từng buôn bán với Ấn Độ qua Thổ Nhĩ Kỳ cứ đeo đuổi mãi với bao nỗi nhọc nhằn. Thế rồi sau khi phát hiện Hảo Vọng Giác (Ấn Độ) ít lâu thì Italia mất vị trí trung tâm thương mại toàn cầu, và có thể nói chỉ còn là một góc của vũ trụ mà thôi. Cho đến nay vẫn là như vậy.

Người Bồ Đào Nha buôn bán với Ấn Độ như những kẻ chinh phục. Họ đã đặt ra các luật phiền hà cho các tiên vương Ấn Độ trước khi có luật của người Hà Lan.

Số phận của "Ngôi nhà nước Áo" thật là kỳ diệu. Charles Quint (người đã cai trị cả Đế quốc Tây Ban Nha từ năm 1516 và Đế quốc La Mã Thần thánh từ năm 1519) tiếp nhận quyền thừa kế Bourgogne (từng là một vùng của Pháp), Castille (những vương quốc thời Trung cổ trên bán đảo Iberia) và Aragon (một cộng đồng tự trị của Tây Ban Nha, nằm trên lãnh thổ của Vương quốc Aragon thời Trung Cổ. Tọa lạc ở đông bắc Tây Ban Nha), trở thành Đế quốc hy vọng ngày càng lớn, và người ta thấy cả thế giới mới đều vâng lời nước Áo.

Christophe Colombus (một nhà hàng hải nổi tiếng người Ý, người tìm ra châu Mỹ) tìm ra Châu Mỹ, và mặc dầu Tây Ban Nha không gửi quân sang Châu Mỹ, vùng đất mới này vẫn nằm dưới quyền hai đế quốc Tây - Bồ và nhiều nước khác.

Khi người Tây Ban Nha chinh phục bờ phía tây thì người Bồ Đào Nha phát hiện và chinh phục bờ phía Đông châu Mỹ. Hai nước xáp nhau phải nhờ Giáo hoàng Alexandre VI (là vị giáo hoàng thứ 214 của giáo hội Công giáo) vạch ra đường ranh giới, xử một vụ tranh chấp lớn.

Nhưng các nước khác ở Châu Âu không để yên cho họ chia nhau. Người Hà Lan đuổi ngưòi Bồ Đào Nha khỏi hầu hết vùng Đông Âu; và nhiều nước ở Châu Mỹ la tinh hình thành quốc gia.

Người Tây Ban Nha coi những vùng đất phát hiện là đốỉ tượng chinh phục; nhưng các nước văn minh hơn thì coi đó là đối tượng buôn bán và hướng tầm mắt vào đây. Họ khôn ngoan tổ chức các đoàn đàm phán; nhờ đàm phán mà cai quản được nhiều nước xa xôi, họ trở thành một lực lượng tháp tùng lớn lao mà không làm bận tâm nước Tây Ban Nha là nước chủ yếu ở đây.

Các thuộc địa mà người ta thiết lập ở châu Mỹ dưới một hình thức độc lập khác hẳn các thuộc địa cũ, coi như một bộ phận tách từ Chính quốc ra, hoặc do một công ty thương mại của Chính quốc thiết lập nên.

Mục tiêu của những thuộc địa này là để làm thương mại với các điều kiện tốt, hơn là thương mại với các nước láng giềng chỉ có đôi bên. cùng lợi như nhau, ở đây người ta quy định chỉ có Mẫu quốc nắm quyền thương thuyết ở thuộc địa, vì mục đích thiết lập thuộc địa chỉ là buôn bán chứ không phải để xây dựng thêm thành phố, mở rộng thêm vương quốc.

Như vậy, đây còn là một thứ luật cơ bản của Châu Âu: tất cả việc buôn bán với thuộc địa ở ngoài nước đều coi như một thứ độc quyền thuần tuý, mà chỉ có luật của Chính quốc được tròng phạt, chứ không theo luật lệ của bản địa ngày trước.

Lại còn phải chấp nhận rằng luật thương mại giữa các Chính quốc không được vận dụng vào thương mại giữa các thuộc địa.

Nỗi thiệt thòi của các thuộc địa về mất tự do thương mại được đền bù lại bằng sự bảo hộ của Chính quốc, bảo vệ bằng vũ khí và duy trì bằng pháp luật của chính quốc.

Từ điều này nảy sinh luật thứ ba của Châu Âu là: Khi ngoại thương với thuộc địa bị cấm thì việc đi lại trên biển phải được thiết lập thông qua hiệp ước.

Phát hiện Châu Mỹ dẫn tới việc nối liền Châu Á và Châu Phi với Châu Âu. Châu Mỹ cung cấp cho Châu Âu chất liệu thương mại với cả một vùng rộng lớn của Châu Á mà người ta gọi là Đông Ấn. Bạc, thứ kim loại hữu ích trong thương mại trở thành cơ sở cho giao lưu toàn cầu, như một thứ hàng hoá. Rốt cuộc đường hàng hải qua Châu Phi trở thành cần thiết, nó cung cấp nhân lực cho việc khai mỏ và khẩn hoang ở Châu Mỹ.

Châu Âu trở nên một đại cường cao độ chưa ai sánh kịp trong lịch sử, xét về các mặt chi phí, về các lĩnh vực cam kết, về số lượng quân đội, và xét về tính liên tục của các cuộc đàm phán có khi chỉ kéo dài vô ích và chỉ là đàm phán để khoa trương.