Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng phát triển và cạnh tranh, chính sách bảo hiểm thất nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an sinh xã hội, ổn định đời sống cho người lao động khi mất việc làm. Việc xác định rõ những đối tượng bắt buộc phải đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định mới không chỉ giúp người lao động hiểu và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động – việc làm. Đây là nội dung có ý nghĩa thiết thực, gắn liền trực tiếp với quyền lợi lâu dài của hàng triệu người lao động và trách nhiệm của người sử dụng lao động trong nền kinh tế hiện nay.

1. Bảo hiểm thất nghiệp là gì? 

Theo khoản 4 Điều 2 Luật việc làm 2025, Bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình bảo hiểm bắt buộc do Nhà nước tổ chức, thể hiện rõ vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc bảo đảm an sinh xã hội và ổn định thị trường lao động. Tính bắt buộc của loại hình bảo hiểm này cho thấy đây không chỉ là sự lựa chọn mang tính tự nguyện của các bên, mà là nghĩa vụ pháp lý đặt ra đối với cả người lao động và người sử dụng lao động khi phát sinh quan hệ lao động thuộc diện tham gia. Cơ chế bắt buộc nhằm mở rộng phạm vi bao phủ, tạo nguồn quỹ ổn định và bảo đảm sự chia sẻ rủi ro trong cộng đồng lao động.

Việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp không chỉ nhằm mục đích bù đắp thu nhập khi người lao động bị mất việc làm, mà còn hướng đến mục tiêu duy trì và phát triển việc làm bền vững. Thông qua các chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm, bảo hiểm thất nghiệp góp phần giúp người lao động sớm quay trở lại thị trường lao động. Điều này cho thấy chính sách không đơn thuần mang tính trợ cấp thụ động, mà còn có ý nghĩa chủ động trong việc hỗ trợ tái hòa nhập việc làm.

Cơ sở tài chính của bảo hiểm thất nghiệp được hình thành từ sự đóng góp vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và người sử dụng lao động theo quy định. Quỹ này hoạt động theo nguyên tắc đóng – hưởng và chia sẻ rủi ro, nghĩa là người tham gia đóng góp trong quá trình làm việc để được hưởng quyền lợi khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Cơ chế này bảo đảm tính công bằng, minh bạch và bền vững của chính sách.

Như vậy, bảo hiểm thất nghiệp là một thiết chế an sinh xã hội quan trọng, kết hợp giữa trách nhiệm của Nhà nước và nghĩa vụ đóng góp của các bên trong quan hệ lao động, nhằm hỗ trợ người lao động khi mất việc làm và góp phần ổn định, phát triển thị trường lao động theo hướng bền vững.

2. Những đối tượng bắt buộc phải đóng bảo hiểm thất nghiệp theo luật mới?

Theo khoản 1 Điều 31 Luật việc làm 2025, Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, nhằm hỗ trợ người lao động khi mất việc làm, góp phần ổn định đời sống và duy trì sự cân bằng của thị trường lao động. Việc xác định rõ những đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp không chỉ bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người lao động mà còn thể hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;

- Người lao động quy định tại điểm a khoản này làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội;

- Người làm việc theo hợp đồng làm việc;

- Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã có hưởng tiền lương.

Trong trường hợp người lao động đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp khác nhau quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp cùng với việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Như vậy, Các quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp được xây dựng theo hướng bao quát nhiều loại hình lao động khác nhau, từ người làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đến các chức danh quản lý có hưởng lương trong doanh nghiệp và hợp tác xã. Đồng thời, trong trường hợp một người lao động đồng thời thuộc nhiều nhóm đối tượng, trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp vẫn được đặt ra gắn với việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo đảm tính thống nhất và đầy đủ trong thực hiện nghĩa vụ. Điều này không chỉ mở rộng diện bảo vệ của chính sách bảo hiểm thất nghiệp mà còn góp phần củng cố mạng lưới an sinh xã hội, tạo điểm tựa vững chắc cho người lao động trước những rủi ro về việc làm.

Lưu ý: Người lao động theo quy định trên Điều này mà đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng theo quy định của Chính phủ hoặc đủ điều kiện hưởng lương hưu; người lao động đang làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động; người lao động là người giúp việc gia đình thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

3. Người sử dụng lao động nào phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp?

Theo khoản 3 Điều 31 Luật việc làm 2025, Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp được xác định với phạm vi rất rộng, bao gồm nhiều loại hình cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động thuê mướn, sử dụng lao động theo quy định. Cách quy định này thể hiện nguyên tắc bảo đảm mọi quan hệ lao động thuộc diện bắt buộc đều được đặt trong khuôn khổ của chính sách an sinh xã hội, không phân biệt tính chất hay lĩnh vực hoạt động của chủ thể sử dụng lao động.

Nhóm cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc diện tham gia khi có sử dụng lao động theo hợp đồng thuộc đối tượng bắt buộc. Việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong khu vực công góp phần bảo đảm quyền lợi cho người lao động, đồng thời thể hiện sự thống nhất trong thực hiện chính sách giữa khu vực công và khu vực tư.

Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và tổ chức cơ yếu cũng phải tham gia đối với lao động làm việc theo chế độ hợp đồng. Quy định này cho thấy dù là lĩnh vực đặc thù, khi phát sinh quan hệ lao động có trả công và thuộc diện bắt buộc thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Những tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác đều thuộc diện tham gia nếu có thuê mướn, sử dụng lao động theo quy định. Điều này bảo đảm tính bình đẳng giữa các loại hình tổ chức trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động.

Các cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam cũng phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc. Quy định này khẳng định nguyên tắc áp dụng pháp luật thống nhất đối với mọi chủ thể hoạt động tại Việt Nam, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố nước ngoài.

Doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh, các tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động đều phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp nếu thuộc trường hợp luật định. Việc mở rộng đến cả cá nhân sử dụng lao động cho thấy chính sách không chỉ áp dụng đối với các chủ thể có quy mô lớn mà bao quát toàn bộ các quan hệ lao động có tính chất thuê mướn.

Như vậy, phạm vi người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp được xác định toàn diện và bao trùm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, nhằm bảo đảm sự công bằng, đồng bộ và hiệu quả của hệ thống bảo hiểm thất nghiệp.

Kết luận 

Quy định về các đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm mở rộng diện bao phủ an sinh, bảo vệ người lao động trước những rủi ro khách quan của thị trường lao động. Khi người lao động và người sử dụng lao động nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm thất nghiệp, không chỉ quyền lợi cá nhân được bảo đảm mà còn góp phần xây dựng một thị trường lao động ổn định, minh bạch và bền vững. Vì vậy, việc nắm vững và tuân thủ đúng quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp chính là hành động thiết thực để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mỗi cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn xã hội.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.