Thưa luật sư, xin luật sư cho biết những khoản tiền lương nào của người lao động sẽ không được tính vào tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội ạ?  Rất mong được luật sư giải đáp thấu đáo. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: Nguyễn Mai - Thái Nguyên

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật lao động 2019

- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

- Nghị định 145/2020/NĐ-CP

- Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH

- Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017

- Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH 

- Thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH

2. Tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phục cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của Bộ luật lao động. Cụ thể, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bao gồm:

- Mức lương: Được hiểu là mức lương được tính theo thời gian của công việc hoặc chứng danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định của Bộ luật lao động mà các bên đã thỏa thuận. Đối với người lao động nào hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán thì mức lương sẽ là mức lương tính theo thời gian để xác định đơn giá sản phẩm hoặc lương khoán. Mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng đối với người lao động nào làm công việc hoặc chứng danh giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường. Riêng đối với người lao động nào làm các công việc mà đòi hỏi phải qua học nghề, đào tạo nghề thì mức lương tối thiểu phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đó.

- Các khoản phụ cấp lương: để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức danh, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự.

- Các khoản bổ sung khác: được hiểu là các khoản mà có thể xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả thường xuyên cho người lao động trong mỗi kỳ trả lương.

3. Các khoản không được tính vào tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc

Bên cạnh các khoản hình thành nên tiền lương được  nêu ở mục 2.1, nguồn thu nhập từ tiền lương của người lao động còn có thể có từ những khoản khác được người sử dụng lao động chi trả mà những khoản này sẽ không được xem là tiền lương cũng như không được sử dụng làm căn cứ để xác định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động theo hướng dẫn tại Thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH: "Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không bao gồm các chế độ và phúc lợi khác như thưởng theo quy định tại Điều 104 Bộ luật lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động quy định tại tiết c2 điểm c khoản 5 Điều 3 của Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH."

3.1. Tiền thưởng theo quy định của Bộ luật lao động

Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật lao động, tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

Như vậy, có thể nhận thấy rằng bản chất của tiền thưởng là một khoản tiền được người sử dụng lao động chi trả cho người lao động có điều kiện. Quyết định thưởng cho người lao động phải căn cứu vào cả 02 yếu tố đó là: (i) kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp và (ii) mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Vì tính chất của tiền thưởng là khoản tiền được chi trả có điều kiện cho nên người sử dụng lao động cần lưu ý quy định rõ các điều kiện được hưởng, mức hưởng trong quy chế thưởng do người sử dụng lao động xây dựng và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Như vậy, để một khoản thu nhập của người lao động được xem như là tiền thưởng thì khoản thu nhập đó phải hội đủ 04 yếu tố sau đây:

+ Ghi thành một mục riêng trong hợp đồng lao động

+ Phải nằm trong quy chế thưởng của doanh nghiệp do người sử dụng lao động ban hành;

+ Quy chế thưởng phải có ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở tại doanh nghiệp và

+ Quy chế thưởng phải được người sử dụng lao động công bố công khai tại nơi làm việc

Tuy nhiên, mặc dù không được xem là khoản phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, tiền thưởng vẫn được xem là khoant thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập cá nhân. Các khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể cả thưởng bằng chứng khoán đều được xem là thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động và là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân. Vì vậy, đối với tiền thưởng, người sử dụng lao động có nghĩa vụ khấu trừ một phần tiền tương đương với số thuế thuế thu nhập cá nhân phải trả để đóng thay cho người lao động theo quy định.

Xét ở góc độ thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thưởng được xem là khoản chi thực tế gắn với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho nên nếu được quy định trong quy chế thưởng của doanh nghiệp hay trong hợp đồng lao động thì sẽ được xem là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu các khoản thưởng không được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng trogn quy chế thưởng, thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp hay hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động sẽ không được trừ những khoản chi này khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp.

3.2. Tiền thưởng sáng kiến

Cũng với bản chất là tiền thưởng, tiền thưởng sáng kiến được áp dụn nếu người lao động có những giải pháp làm tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Để chi trả tiền thưởng nói chung và tiền thưởng sáng kiến nói riêng cho người lao động, người sử dụng lao đọng phải có quy định cụ thể trong quy chế thưởng của doanh nghiệp về điều kiện hưởng, mức hưởng và các điều kiện khác nếu cần thiết.

Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân, tiền thưởng sáng kiến cũng thuộc một trong các loại thu nhập chịu thuế trừ khi tiền thưởng cho sáng kiến là các cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận (cấp bằng sở hữu công nghiệp về sáng chế) 

Về thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thưởng sáng kiến cũng được xem là khoản chi thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và do đó được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu người sử dụng lao động không ban hành quy chế nào quy định một cách cụ thể về việc chi thưởng sáng kiến, cải tiến, không có hội đồng nghiệm thu sáng kiến, cải tiến thì khoản chi thưởng sáng kiến, cái tiến đó sẽ không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp.

3.3. Tiền ăn giữa ca

Tiền ăn giữa ca là một khoản phúc lợi khác dành cho người lao động mà theo quy định của luật bảo hiểm là khoản không phải đóng ảo hiểm xã hội bắt buộc. Để hiểu chính xác khoản tiền ăn giữa ca theo quy định của pháp luật, khái niệm về ca làm việc cần được làm rõ.

Theo đó, Bộ luật lao động có quy định về thời giờ làm việc bình thường của người lao động là không quá 08 giờ/ngày và 48/ tuần. Đối với khái niệm về ca làm việc, thì theo quy định , tổ chức làm việc theo ca là việc người sử dụng lao động bố trí ít nhất hai người hoặc hai nhóm người thay phiên nhau làm việc trên cùng một vị trí làm việc, tính trong khoảng thời gian 01 ngày (tức 24 giờ liên tục). Điều 64 Nghị định 145/2020/NĐ-CP có quy định về thời gian người lao động nghỉ trong giờ làm việc, thời gian nghỉ  giữa giờ làm việc út nhất 30 phút được xem như là thời giờ làm việc áp dụng trong ca liên tục 06 giờ trở lên và thời gian chuyển tiếp giữa hai ca làm việc liền kề không quá 45 phút.

Do đó, khi áp dụng thì tiền ăn giữa ca chỉ là một khoản phúc lợi chứ không phải là tiền lương của người lao động trong trường hợp này. Người sử dụng lao động cần chú ý rằng những khoản như vậy chỉ có thể được thực hiện đối với người lao động nào làm việc có tính chất liên tục từ 06 giờ trở lên như tại các nhà xưởng, nhà máy, xí nghiệp. Các khoản như vậy sẽ không áp dụng đối với người lao động nào làm việc tại văn phòng trong các tòa nhà văn phòng mà họ đã được bố trí giờ nghỉ giữa trưa.

Xét dưới góc độ thuế thu nhập cá nhân, khoản tiền ăn giữa ca do người sử dụng lao động chi cho người lao động sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động trừ trường hợp số tiền só vượt quá mức quy định của Bộ lao động thương binh xã hội tại từng thời điểm. Đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước và các tổ chức khác như các doanh nghiệp dân doanh, mức chi cụ thể sẽ do thủ trưởng đơn vị thống nhất với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở quyết định nhưng tối đa không được vượt quá mức áp dụng đối với người lao động của các doanh nghiệp nhà nước.

3.4. Các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại 

Các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, phương tiện đi lại là các khoản phúc lợi dành cho người lao động nên sẽ không được xem như là tiền lương làm căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Song việc thỏa thuận các khoản hỗ trợ này cũng cần được xem xét và chi trả phù hợp và tương ứng với giá cả trên thị trường trên thực tế. Nếu cơ cấu khoản chi này quá cao sẽ khiến cơ quan thế yêu cầu giải trình hoặc có thể bị thanh tra lao động.

Về thuế thu nhập cá nhân, tiền điện thoai, mức khoán chi này sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động nếu được áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp theo văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Về vấn đề thuế thu nhập cá nhân đối với khoản tiền điện thoại bạn đọc có thể tham khảo hướng dẫn của Tổng cục thuế tại Công văn số 1166/TCT-TNCN hướng dẫn về thuế TNCN đối với tiền công tác phí, tiền điện thoại.

Đối với khoản hỗ trợ đi lại, các khoản chi về phương tiện phục vụ đưa đón người lao động từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động theo quy chế của doanh nghiệp (điểm đ.5 khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC). Như vậy việc xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản hỗ trợ đi lại cho người lao động sẽ chủ yếu căn cứ vào quy chế của từng doanh nghiệp.

Dưới góc độ thuế thu nhập doanh nghiệp, các khoản chi trên là những khoản mà người sử dụng lao động được phép trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp nếu có hóa đơn, chứng từ theo quy định. Tổng số tiền mà doanh nghiệp chi cho các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại và các khoản phúc lợi như vậy không được vượt quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế (điểm a khoản 1 Điều 9 Nghi định 218/2013/NĐ-CP sửa đổi tại Nghị định 91/2014/NĐ-CP).

3.5. Tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ

Tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ là các khoản phúc lợi được chi trả thêm cho người lao động do đó các khoản này sẽ không được xem là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động. Nhưng cần lưu ý người sử dụng lao động không thể đưa những khoản tiền này vào mục chi trả của hợp đồng lao đọng nếu thực tế người lao động không sử dụng chúng vào mục đích tương ứng. Đồng thời mức chi này cúng không được vượt quá mức giá thực tế của những dịch vụ này trên thị trường tại thời điểm chi trả.

3.6. Hỗ trợ khi NLĐ có thân nhân bị chết, có người thân kết hôn, sinh nhật của NLĐ

Đây là những khoản phúc lợi mang tính chất hỗ trợ có yếu tố bù đắp tinh thần cho người lao động hơn là phục vụ cho các vấn đề công việc của người lao động. Thân nhân của người lao động được hiểu là bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố vợ, mẹ vợ, bố chồng, mẹ chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi hợp pháp (khoản 6 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014)

3.7. Trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp

Tai nạn lao động ở đây cần xác định theo đúng quy định pháp luật lao động và bệnh nghề nghiệp xác định theo danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ y tế ban hành.

Khi người lao đông rơi vào hoàn cảnh khó khăn do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không phải lỗi từ phí người sử dụng lao động, người sử dụng lao động sẽ trợ cấp cho người lao động theo quy định tại Luật an toàn vệ sinh lao động 2015.

Trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là các khoản phúc lợi không được xem là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và cũng không được xem là khoản thu nhập chịu thuế của người lao động theo pháp luật thuế thu nhập cá nhân.

3.8. Các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác

Ngoài các khoản hỗ trợ, trợ cấp như trên, pháp luật quy định các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác mang tính chất mở để người sử dụng lao động tùy vào khả năng của mình mà có thể hỗ trợ, trợ cấp cho người lao động những khoản khác. Những khoản hỗ trợ, trợ cấp dod cũng sẽ không được xem là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động với điều kiện là các khoản đó không thuộc các khoản được xem là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung "các khoản không tính vào lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động". Bạn đọc có vướng mắc pháp lý cần hỗ trợ vui lòng liên hệ hotline 1900.6162 để được gặp trực tiếp luật sư hỗ trợ trực tiếp, nhanh chóng, chính xác!

Luật Minh Khuê (Tổng hợp và phân tích)