1. Khái quát về nội dung hợp đồng bảo đảm

Năm 1999 pháp luật đã từng quy định, hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản “có các nội dung chủ yếu”, bao gồm 6 nội dung (nghĩa vụ được bảo đảm; mô tả tài sản cầm cố, thế chấp; giá trị của tài sản cầm cố, thế chấp, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định; bên giữ tài sản cầm cố, thế chấp; quyền và nghĩa vụ của các bên; các trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp) và thứ 7 là “các thỏa thuận khác”. Với cách viết như vậy, nếu một giao dịch bảo đảm thiếu “các thỏa thuận khác” thì có thể dẫn đến tranh cãi bị coi như chưa có hợp đồng và là vô hiệu, vì thiếu “nội dung chủ yếu của hợp đồng là những điều khoản mà thiếu những điều khoản đó, thì hợp đồng không thể giao kết được”.

Nhưng kể từ Bộ luật Dân sự năm 2005 trở đi, pháp luật không còn quy định hợp đồng nói chung, hợp đồng bảo đảm nói riêng bắt buộc phải có những nội dung nào, mà chỉ quy định chung là “tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây”. Như vậy, trừ khi pháp luật có quy định cụ thể về điều khoản bắt buộc như hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm, còn các hợp đồng khác không cần biết có hay không có điều khoản chủ yếu (bắt buộc).

Ví dụ, giá trị của tài sản bảo đảm là một trong những nội dung trọng yếu của hợp đồng bảo đảm, nhưng theo hướng, dẫn của Bộ Tư pháp thì lại không nhất thiết phải ghi trong hợp đồng bảo đảm, trừ thế chấp nhà ở là phải ghi rõ, do phải thực hiện quy định tại Điều 114 “Điều kiện thế chấp nhà ở, Luật Nhà ở năm 2005. Và tiếp đó là sự khẳng định “Công chứng viên yêu cầu trong hợp đồng bảo đảm phải có điều khoản về giá trị của tài sản bảo đảm là không đúng với quy định của pháp luật”. Nếu như vậy, thì hợp đồng mua bán tài sản, nếu không ghi giá cả và giá trị thì cũng không trái với quy định của pháp luật?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên tham gia hợp đồng bảo đảm có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng như đối với hợp đồng nói chung. Theo đó, hợp đồng bảo đảm có thể có các nội dung sau đây: tài sản bảo đảm (số lượng, chất lượng, trị giá); biện pháp và nghĩa vụ bảo đảm (đối tượng của hợp đồng); bên giữ tài sản bảo đảm; phương thức xử lý tài sản bảo đảm; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp.

Trị giá của tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận, trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác. Ví dụ, giá trị đối với quyền sử dụng đất thế chấp để bảo đảm cho khoản vay được Chính phủ bảo lãnh được xác định theo quy định tại bảng khung giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi có tài sản, phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành có liên quan.

Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 của Chính phủ “Quy định về khung giá đất” đã quy định gồm 11 khung giá đất, thấp nhất là 1.000 đồng/m2 đối với đất rừng sản xuất tại xã miền núi Vùng duyên hải Nam Trung bộ, cao nhất là 162 triệu đồng/m2 đối vói đất ở tại hai thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (đô thị đặc biệt).

Bảng khung giá đất thấp nhất và cao nhất

Đơn vị tính: nghìn đồng/m2

TT

Loại đất

Giá đất

Thấp nhất

Cao nhất

1

Đất trồng cây hằng năm.

5

250

2

Đất trồng cây lâu năm.

5

300

3

Đất rừng sản xuất.

1

190

4

Đất nuôi trồng thủy sản.

3

250

5

Đất làm muối.

5

142

6

Đất ở tại nông thôn.

15

29.000

7

Đất thương mại, dịch vụ tại nông thôn.

16

23.200

8

Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại.

900

17.400

9

Đất ở tại đô thi.

50

162.000

10

Đất thương mại, dịch vụ tại đô thị.

32

129.000

11

Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ tại đô thị.

24

97.200

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo đảm, các bên cũng có thể thỏa thuận về việc xác định lại trị giá của tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm, nhất là các tổ chức tín dụng, có thể định giá lại tài sản bảo đảm để xem xét thỏa thuận bảo đảm tiền vay mới hoặc chỉ để phục vụ mục tiêu quản lý rủi ro. Chẳng hạn như Thông tư số 139/2015/TT- BTC và Thông tư số 10/2016/ TT-BTC quy định 4 trường hợp định giá lại tài sản bảo đảm tiền vay cho khoản vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ và thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay được Chính phủ bảo lãnh gồm: theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp (cổ phần hóa, bán hoặc chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp theo các hình thức khác); dùng tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Các quy định hiện hành về giao dịch bảo đảm và biểu mẫu hiện hành về đăng ký giao dịch bảo đảm không yêu cầu ghi giá trị tài sản bảo đảm và giá trị phần nghĩa vụ được bảo đảm. Như vậy, không có cơ sở pháp lý để thực hiện quy định “một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Điều khoản về nghĩa vụ được bảo đảm

Điều khoản này luôn xác định rõ áp dụng biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, hay bảo lãnh. Nội dung của điều khoản này thỏa thuận về nghĩa vụ trả nợ của bên bảo đảm, có thể là chính bên có nghĩa vụ theo hợp đồng chính hoặc là người thứ ba.

Vấn đề quan trọng nhất của nghĩa vụ được bảo đảm là phải được xác định rõ ràng. Bộ luật Dân sự năm 2005 trưốc đây quy định “đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định cụ thể”. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định”.

Tuy Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ bớt từ “cụ thể” trong câu “đốĩ tượng của nghĩa vụ phải được xác định cụ thể”, nhưng nghĩa vụ vẫn phải được xác định một cách càng rõ ràng càng tốt. Ví dụ như nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay vốn cần liệt kê rõ bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn của nợ gốc, lãi của lãi quá hạn, chi phí xử lý tài sản bảo đảm và các chi phí khác theo các hợp đồng vay.

Vụ án dưới đây cho thấy Toà án đã không chấp nhận việc thế chấp hợp pháp của người thứ ba vì không xác định rõ nghĩa vụ được bảo đảm.

Vào hai năm 2007 và 2008, Ngân hàng thương mại cổ phần N cho Công ty cổ phần dược phẩm K vay tiền theo 4 hợp đồng tín dụng, tài sản thế chấp là 6 bất động sản, trong đó có bất động sản thứ nhất là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ồ tại số 122 phố H, quận B, Thành phô' H của bà Nguyễn Thị p. Hợp đồng thế chấp bảo đảm cho khoản vay cao nhất là 4,605 tỷ đồng, đã được công chứng ngày 25/6/2008 và đăng ký thế chấp ngày 10/7/2008. Bất động sản thứ hai là quyền sỗ hữu nhà ỏ và quyền sử dụng đất ở tại tổ 13, cụm 2, phường N, quận T, thành phố H, của ông Nguyễn Đăng D. và vợ là bà Đỗ Thị L. Hợp đồng thế chấp bảo đảm cho khoản vay cao nhất là 1,25 tỷ đồng, đã được công chứng ngày 25/6/2008 và đăng ký thế chấp ngày 01/7/2008.

Cả hai hợp đồng thế chấp đều có nội dung thỏa thuận: các điều kiện chi tiết về việc cho vay sẽ được ghi cụ thể trong các giấy tờ nghiệp vụ ngân hàng ký giữa ngân hàng N. và bên vay vốn. Tuy nhiên, hai hợp đồng thế chấp trên lại bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ theo 4 hợp đồng tín dụng ký vào các ngày 25/12/2007, 28/12/2007, 28/3/2008 và 27/5/2008, trước khi ký hợp đồng thế chấp.

Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 32/2011/ KDTM-ST ngày 24/3/2011, Toà án nhân dân thành phố H đã tuyên Công ty K phải trả Ngân hàng N số tiền gần 8,2 tỷ đồng, nhưng không chấp nhận việc phát mại hai tài sản thế chấp nêu trên để trả nợ ngân hàng.

Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao (nay là Toà án nhân dân cấp cao) tại Hà Nội đã chấp nhận việc phát mại hai tài sản thế chấp nêu trên để trả nợ ngân hàng.

Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tôì cao đã hủy cả hai bán án trên để yêu cầu xử lại theo hướng không chấp nhận việc phát mại hai tài sản thế chấp nêu trên để trả nợ ngân hàng. Lý do chính mà cấp giám đốc thẩm nêu ra là: cả hai hợp đồng thế chấp hất động sản để cho người thứ ba vay vốn ngân hàng đều không nêu rõ bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng nào và đều được ký kết sau khi đã ký 4 hợp đồng tín dụng.

Thực ra, việc ký hợp đồng bảo đảm sau khi ký hợp đồng tín dụng mới là đúng vối nguyên tắc của giao dịch bảo đảm (hợp đồng phụ có sau hợp đồng chính). Tuy nhiên, việc ký hợp đồng bảo đảm trước hay sau không quan trọng, vì đều được pháp luật công nhận. Rủi ro trong trường hợp này chính là đã không xác định rõ là tài sản thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay nào, nhất là các khoản vay đã phát sinh, chứ không còn là nghĩa vụ trong tương lai.

3. Điều khoản về quyền và nghĩa vụ

Điều khoản về quyền và nghĩa vụ đối với hợp đồng bảo đảm có sự tham gia của hai bên thì có thể thiết kế theo một trong bốn cách chính như sau:

Thứ nhất, gồm bốn điều, trong đó mỗi điều liệt kê về từng quyền và từng nghĩa vụ của mỗi bên;

Thứ hai, gồm hai điều, trong đó có một điều về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên hoặc một điều về quyền và một điều về nghĩa vụ của cả hai bên;

Thứ ba, chỉ có một điều gồm cả quyền và nghĩa vụ của cả hai bên;

Thứ tư, không có điều riêng nào về quyền và nghĩa vụ của hai bên, mà được lồng ghép vào các điều khoản khác.

Liệt kê quyền và nghĩa vụ của các bên theo ba cách đầu thì khá đơn giản, rõ ràng. Còn khó hơn là chuyển hoá quyền, nghĩa vụ của các bên vào các đỉều khoản liên quan của hợp đồng. Chẳng hạn, đối với hợp đồng mua bán thì quyền, nghĩa vụ của các bên chính là quyền, nghĩa vụ trong giao nhận tài sản; quyền, nghĩa vụ trong thanh toán; quyền, nghĩa vụ trong bảo hành hàng hoá; quyền, nghĩa vụ do vi phạm hợp đồng; V.V.. Còn đối với hợp đồng bảo đảm là quyền giữ giấy tờ tài sản bảo đảm, quyền sử dụng tài sản bảo đảm, quyền xử lý tài sản bảo đảm, nghĩa vụ quản lý tài sản bảo đảm, nghĩa vụ mua bảo hiểm, nghĩa vụ bàn giao tài sản, V.V..

Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định trong trường hợp tài sản thế chấp bị mất, hư hỏng, mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì bên thế chấp phải thông báo ngay cho bên nhận thế chấp và phải sửa chữa, bổ sung hoặc thay thế tài sản khác có giá trị tương đương hoặc bổ sung, thay thế biện pháp bảo đảm khác, nếu không có thỏa thuận khác. Người thứ ba giữ tài sản thế chấp không phải bồi thưòng thiệt hại trong trường hợp vật thế chấp bị hao mòn tự nhiên.

Bên thế chấp có nghĩa vụ tạo điều kiện để bên nhận thế chấp thực hiện quyền giám sát, kiểm tra quá trình hình thành tài sản. Việc giám sát, kiểm tra của bên nhận thế chấp không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc hình thành tài sản.

Các bên cũng có thể đưa thêm nội dung cam đoan sự thật và chịu trách nhiệm vào hợp đồng bảo đảm. Tuy nhiên, cần lưu ý tránh những nội dung bất hợp lý như bên thế chấp và nhận thế chấp cam đoan “việc giao kết Hợp đồng này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, không bi ép buộc” tại mẫu “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền vói đất”, ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT1 hay mẫu “Hợp đồng bảo đảm tiền vay” cho khoản vay lại vôn vay nước ngoài của Chính phủ, ban hành kèm theo Thông tư số 139/2015/TT-BTC và mẫu “Hợp đồng thế chấp tài sản cho khoản vay được Chính phủ bảo lãnh”, ban hành kèm theo Thông tư số 10/2016/TT-BTC. Nếu một bên tham gia hợp đồng bảo đảm bị lừa dôì hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Tuy nhiên, việc một bên “bị lừa dối” là do bị bên kia dùng thủ đoạn lừa đảo, gian dối tại thời điểm giao kết hợp đồng, nên rất khó, thậm chí là không thể biết được, vì vậy không thể cam kết rằng mình “không bị lừa dối”.

4. Điều khoản về xử lý tài sản bảo đảm

Bên nhận bảo đảm thường giành quyền quyết định lựa chọn một hoặc một số phương thức xử lý tài sản bảo đảm (chủ yếu là tài sản thế chấp) như trực tiếp bán, ủy quyền bán, bán đấu giá tại thời điểm phải xử lý tài sản bảo đảm.

Vì việc xử lý tài sản thế chấp, nhất là đối với bất động sản, thường rất khó khăn, tốn kém, phức tạp, kéo dài, cho nên một số trường hợp bên nhận thế chấp còn yêu cầu bên thế chấp phải ủy quyền, thậm chí ký sẵn hợp đồng ủy quyền cho bên nhận thế chấp toàn quyền quyết định phương thức và giá bán tài sản thế chấp (có xác nhận của công chứng cùng thời điểm ký hợp đồng thế chấp).

Tuy nhiên, nhiều tổ chức hành nghề công chứng không chấp nhận việc xác nhận hợp đồng ủy quyền này, vì ít nhiều có mâu thuẫn, vướng mắc vối nội dung của hợp đồng thế chấp. Có quan điểm cho rằng, bên thế chấp đã ký hợp đồng thế chấp thì không được ủy quyền xử lý tài sản, vì “quy định việc ủy quyền xử lý tài sản như một phần nội dung của hợp đồng thế chấp hoặc giao kết hợp đồng thế chấp kèm theo hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản là không phù hợp với quy định của pháp luật”.

Các bên thường thỏa thuận về việc quản lý, khai thác, sử dụng và thu hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp trong thời gian chờ xử lý.

Các bên cũng thường liệt kê khá cụ thể các trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm, thứ tự xử lý, thứ tự thu hồi nợ. Trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định rõ thứ tự thu hồi nợ từ tiền bán tài sản cầm cố, thế chấp như sau: nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có, sau khi đã trừ đi các khoản chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản bảo đảm. Nhưng Bộ luật dân sự đã không còn quy định bắt buộc về thứ tự thu hồi nợ từ tiền bán tài sản bảo đảm. Riêng trường hợp bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ đối vối khoản nợ vay bị quá hạn trả nợ, thì tổ chức tín dụng thực hiện thu nợ theo thứ tự nợ gốc thu trước, nợ lãi tiền vay thu sau.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý trong các trường hợp sau đây:

(1) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;

(2) Bên thế chấp phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận tại Hợp đồng này hoặc theo quy định của luật;

(3) Trường hợp khác theo thỏa thuận bằng văn bản của hai bên hoặc luật có quy định.

Thông tư số 10/2016/TT-BTC đã đưa vào mẫu hợp đồng thế chấp các nội dung thỏa thuận rất khắt khe sau đây về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp:

(1) Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật;

(2) Khi bên thế chấp bị giải thể, phá sản;

(3) Toàn bộ hoặc một phần đáng kể tài sản, hoạt động kinh doanh của bên thế chấp bị tịch thu, cầm giữ, trưng dụng hoặc bị kiểm soát;

(4) Bất kỳ quy định nào của tài liệu giao dịch hoặc hồ sơ pháp lý của bên thế chấp là vô hiệu hoặc bất hợp pháp hoặc bị bất kỳ Toà án hay cơ quan Nhà nước nào tuyên bô' là vô giá trị; vô hiệu hoặc bất hợp pháp toàn bộ hay một phần;

(5) Toà án, trọng tài trong hoặc ngoài nước tuyên một bản án, đưa ra phán quyết chống lại bên thế chấp mà bản án hoặc quyết định đó theo ý kiến của bên nhận thế chấp sẽ có thể dẫn đến thay đổi bất lợi đáng kể, có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của bên thế chấp đối với bên nhận thế chấp hoặc có ảnh hưỏng tối các tài sản mà bên thế chấp đã thế chấp cho bên nhận thế chấp;

(6) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

5. Điều khoản giải quyết tranh chấp

Các bên tham gia hợp đồng bảo đảm có thể không thỏa thuận hoặc có thể thỏa thuận lựa chọn một, một số hoặc tất cả bốn phương thức giải quyết tranh chấp là thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Toà án.

Biện pháp giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải và Toà án thường được các bên mặc nhiên ghi nhận trong hợp đồng. Nếu các bên muôn giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thì cần thỏa thuận rõ tổ chức nào sẽ thực hiện việc hòa giải, để tránh nguy cơ bế tắc, vì không có cơ chế mặc định lựa chọn tổ chức hòa giải như đô'i với Trọng tài hoặc Toà án.

Riêng biện pháp giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài còn ít được áp dụng, vì trong nhiều trường hợp liên quan đến người thứ ba nên Trọng tài bị hạn chế thẩm quyền (liên quan đến người thứ ba).

Vì là một hợp đồng phụ, nên việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo đảm gần như luôn phụ thuộc vào việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chính. Tuy nhiên, trên thực tế, các bên vẫn thường thỏa thuận về giải quyết tranh chấp trong cả hợp đồng bảo đảm. Điều quan trọng nhất là phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo đảm không được mâu thuẫn với phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng chính.

Nếu các bên không thỏa thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài cụ thể, thì nguyên đơn (bên khởi kiện) có quyền lựa chọn khi khởi kiện. Nếu các bên không thỏa thuận lựa chọn Toà án nơi có trụ sỏ hoặc nơi cư trú của nguyên đơn, thì Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là nơi có trụ sỏ hoặc nơi cư trú của bị đơn (bên bị kiện). Đặc biệt đối với hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để bảo đảm nghĩa vụ cho người thứ ba, thì việc thỏa thuận giải quyết tranh chấp hợp đồng chính bằng Trọng tài không đương nhiên tranh chấp hợp đồng bảo đảm cũng được giải quyết bằng Trọng tài, vì Trọng tài chỉ giải quyết tranh chấp đối vổi các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

Vì vậy, nếu như muốn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, thì buộc phải có thỏa thuận tương tự như nhau trong cả hợp đồng chính và hợp đồng bảo đảm.

Các bên có thể lựa chọn việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chính và hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để bảo đảm nghĩa vụ của người thứ ba bang trọng tài như sau:

Trong hợp đồng chính (như hợp đồng tín dụng) thỏa thuận nội dung như sau: Mọi tranh chấp liên quan đến Hợp đồng này và hợp đồng bảo đảm cho Hợp đồng này (nếu có) được gộp vào để giải quyết trong cùng một vụ tranh chấp tại Toà án hoặc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (“VIAC”) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.

Đồng thời, trong hợp đồng bảo đảm thỏa thuận nội dung như sau: Mọi tranh chấp liên quan đến Hợp đồng này và hợp đồng được bảo đảm bằng hợp đồng này được gộp vào để giải quyết trong cùng một vụ tranh chấp tại Toà án hoặc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (“VIAC”) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung các về số lượng Trọng tài viên (là một hoặc ba trọng tài viên) và địa điểm tiến hành Trọng tài (là tỉnh, thành phố tại Việt Nam hoặc nước ngoài). Riêng đối với các vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, các bên có thể bổ sung nội dung, luật áp dụng cho hợp đồng này là luật của (Việt Nam hoặc nưốc ngoài) và ngôn ngữ dùng trong tố tụng Trọng tài là tiếng (tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài).

Thông tư số 10/2016/TT-BTC cũng đã quy định về thỏa thuận giải quyết tranh chấp trong mẫu hợp đồng thế chấp như sau: một trong hai bên có quyền khởi kiện ra toà án nơi bên nhận thế chấp đóng trụ sở hoặc trọng tài để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các hợp đồng tín dụng thường xuyên xuất hiện bên thế chấp, bảo lãnh là người thứ ba trong một hợp đồng riêng, do đó Trọng tài thương mại chỉ giải quyết được phần thế chấp, bảo lãnh kèm theo hợp đồng tín dụng nếu các bên ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, bảo lãnh đều thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại một Trung tâm Trọng tài thương mại như nêu trên.

Nếu các bên lựa chọn đồng thời cả Trọng tài và Toà án thì khi xảy ra tranh chấp, bên khởi kiện (nguyên đơn) có quyền yêu cầu Trọng tài hoặc Toà án giải quyết tranh chấp.

Đối với hai biện pháp giải quyết tranh chấp bằng hòa giải và Trọng tài thì chỉ thực hiện được khi các bên có lựa chọn, trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Còn đối với biện pháp giải quyết bằng thương lượng và Toà án thì không cần có thỏa thuận cũng vẫn được tiến hành một cách bình thường.

6. Một số điều khoản khác

Thứ nhất, điều khoản về tài sản bảo đẳm. Nội dung của điều khoản này mô tả cụ thể về tên, loại, đặc điểm, địa chỉ, giấy tờ chứng minh quyền sỗ hữu (quyền sử dụng), trị giá của tài sản bảo đảm. Trong đó, có thỏa thuận về hoa lợi, lợi tức và tài sản do được đầu tư, nâng cấp, bổ sung vào tài sản bảo đảm.

Thứ hai, điều khoản về quản lý tài sản bảo đảm. Điều khoản này thường thỏa thuận rõ về bên giữ tài sản (bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm hay người thứ ba). Cùng với đó là quyền được khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm; quyền được kiểm tra, giám sát của bên nhận bảo đảm và các quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan. Các bên cũng thường thỏa thuận về việc được hay không được mua bán, trao đổi, chuyển nhượng tài sản thế chấp. Chẳng hạn như quy định tại Thông tư số 10/2016/TT-BTC, việc chuyển nhượng, chuyển giao tài sản thế chấp gắn liền với việc chuyển nhượng, chuyển giao Dự án hoặc bán, trao đổi tài sản thế chấp của Bên thế chấp phải có sự đồng ý trước bằng văn bản của Bộ Tài chính. Người nhận chuyển nhượng, người nhận chuyển giao kế thừa toàn bộ nghĩa vụ, trách nhiệm của Bên thế chấp về tài sản thế chấp tương ứng với phạm vi chuyển nhượng và có trách nhiệm thực hiện các thủ tục có liên quan tới điều chỉnh Hợp đồng thế chấp tài sản, đăng ký bổ sung giao dịch bảo đảm cùng thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng hoặc chuyển giao.

Ngoài ra, các bên còn có thể thỏa thuận về việc cho mượn, thay thế tài sản. Chẳng hạn, Thông tư số 10/2016/TT-BTC quy định, bên thế chấp chỉ được thay thế tài sản đang thế chấp bằng tài sản khác có giá trị tương đương nếu được bên nhận thế chấp cho phép bằng văn bản;

Thứ ba, mua bảo hiểm tài sản bảo đảm. Các bên có thể thỏa thuận về việc mua bảo hiểm cho tài sản thế chấp như sau: bên thế chấp phải mua bảo hiểm vật chất đối với tài sản thế chấp trong thòi gian bảo đảm nghĩa vụ (theo quy định của pháp luật và theo yêu cầu của bên nhận thế chấp) và hợp đồng bảo hiểm nêu rõ người thụ hưởng là bên nhận thế chấp. Trường hợp thế chấp đã mua bảo hiểm cho tài sản thế chấp thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp. Quyền thụ hưởng tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm thuộc về bên nhận thế chấp. Bên thế chấp phải bảo đảm rằng bên nhận thế chấp được ghi tên trong các hợp đồng bảo hiểm sau thời điểm ký kết Hợp đồng này với tư cách là bên thụ hưỗng bảo hiểm đầu tiên. Thời hạn bảo hiểm không được ít hơn thời hạn thế chấp. Mức bảo hiểm không thấp hơn giá thị trường của tài sản cùng loại tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm. Tiền bảo hiểm được thụ hưởng được sử dụng để thu nợ (kể cả trước hạn) của bên nhận thế chấp trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định, trong trường hợp tàu bay thế chấp bị mất tích hoặc hư hỏng đã được bảo hiểm thì người nhận thế chấp đã đăng ký thế chấp được hưởng số tiền bảo hiểm đó;

Thứ tư, điều khoản về chi phí liên quan. Chi phí liên quan đến hợp đồng và tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận, nhưng thường thì bên bảo đảm phải chịu.

Chi phí liên quan đến hợp đồng bảo đảm bao gồm: chi phí thẩm định, định giá; chi phí cồng chứng, chứng thực, xác nhận và đăng ký giao dịch bảo đảm; chi phí vận chuyển, thuê bảo quản, trông giữ tài sản bảo đảm; chi phí thu hồi, bảo quản, quản lý tài sản bảo đảm; chi phí xử lý tài sản bảo đảm (như chi phí định giá, quảng cáo bán tài sản; chi hoa hồng; chi phí án phí, lệ phí toà án; chi phí cho luật sư; chi phí, lệ phí bán đấu giá; chi phí, lệ phí thi hành án; phí trưởc bạ; thuế các loại); và các khoản chi phí khác có liên quan đến hợp đồng và tài sản bảo đảm.

Thông tư số 10/2016/TT-BTC cũng quy định, bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán mọi chi phí phát sinh liên quan đến các nghiệp vụ về tài sản thế chấp trong suốt quá trình đăng ký giao dịch bảo đảm, thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp.

Riêng phí thi hành án dân sự (là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định của Toà án hoặc Trọng tài) thì ngưòi được thi hành án phải nộp theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), nên không thỏa thuận được;

Thứ năm, điều khoản về chấm dứt hợp đồng. Khác với các hợp đồng thông thường, hợp đồng bảo đảm không xuất hiện các trường hợp huỷ bỏ, đình chỉ, chấm dứt hay tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Hay nói đúng hơn, bên nhận bảo đảm có các quyền này, tức là đồng nghĩa với việc giải phóng trách nhiệm cho bên bảo đảm. Ngược lại, bên bảo đảm nếu đã giao kết hợp đồng bảo đảm đúng pháp luật thì vẫn phải chịu đến cùng về nghĩa vụ bảo đảm trong mọi trường hợp, nên thường không đặt ra vấn đề huỷ bỏ, đình chỉ, chấm dứt hay tạm ngừng thực hiện hợp đồng.