1. Các nguyên tắc trong thương mại dịch vụ

GATT đã vận dụng tốt đến mức nào các nguyên tắc không phân biệt đối xử, đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia vào thương mại dịch vụ? Theo ngôn ngữ chính trị, câu trả lời là không tốt lắm. Những nguyên tắc của GATT về không phân biệt đối xử, quy chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia chỉ hoạt động tốt khi áp dụng cho thương mại hàng hóa bởi vì thuế suất trong những năm đầu tiên của Hiệp định GATT thì tương đối cao và đồng nhất. Với tình trạng thị trường đóng kín ờ hầu hết các quốc gia là khởi điểm cho các cuộc thương thảo, những nguyên tắc không phân biệt đối xử có thể vận hành trong mối liên kết với một quy tắc về tính hỗ tương trong tự do hóa thương mại hàng hóa chứ không tự tung tự tác ai muốn làm gì thì làm. Trái lại, khởi điểm của những cuộc thương thảo về tự do hóa thương mại dịch vụ có một cấu trúc khác hẳn: một số thị trường (như Hoa Kỳ chẳng hạn) đã mở rộng, trong khi những thị trường khác vẫn đóng. Việc sao chép đơn giản những nguyên tắc không phân biệt đối xử cũ của GATT vào dự thảo Hiệp định GATS đã tạo ra một ưu đãi cho những quốc gia khép kín được tự tung tự tác bằng cách dựa vào nguyên tắc tối huệ quốc để duy trì quyền tiếp cận thị trường các quốc gia cởi mở mà không đưa nghĩa vụ mở cửa thị trường của chính mình vào hoạt động thương mại dịch vụ. Như đã thấy qua các cuộc thương thảo về dịch vụ viễn thông căn bản và dịch vụ tài chính, chỉ có thể đạt được tự do hóa sau khi thị trường mở lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ tiến hành cắt giảm cách đối xử tối huệ quốc.

2. Những khó khăn trong áp dụng các nguyên tắc MFN, NT... khi cung ứng dịch vụ qua biên giới

Về phương diện tính hiệu quả hình thức, tính chất có thể áp dụng ngay được của các nguyên tắc của GATT trong ngành dịch vụ gần như hoàn toàn tùy thuộc vào phương thức giao nhận dịch vụ. Làm thế nào có thể xác định MFN và đối xử quốc gia trong trường hợp các vụ chuyển dịch dịch vụ xuyên biên giới? Các quy định điều chỉnh việc cung cấp một dịch vụ nào đó từ nước ngoài thường có khuynh hướng phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp nếu những điều kiện ở các thị trường xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ có khác nhau; và có khi phân biệt đối xử giữa các dịch vụ trong nước và nước ngoài chỉ như là một chức năng trong bản chất các rủi ro phải đối mặt. về cơ bản, vấn đề thường được ủy cho thiện ý của chính phủ nước nhập khẩu có chấp nhận hay không khả năng của chính phủ nước xuất khẩu trong việc điều hành các nhà cung cấp dịch vụ mà họ mong muốn. Điểm này thì liên quan nhiều tới sự công nhận lẫn nhau giữa các thực thể hành chính hơn là quy chế tối huệ quốc truyền thống hoặc đối xử quốc gia như là một hướng dẫn cho chính sách.

3. Áp dụng những nguyên tắc không phân biệt đối xử khi "tiêu thụ dịch vụ ở nước ngoài

Trong trường hợp dịch vụ được “tiêu thụ ở nước ngoài”, những nguyên tắc không phân biệt đối xử được áp dụng trực tiếp hơn nhiều. Giờ đây ít có quốc gia nào hạn chế phương cách tiêu dùng cá nhân của du khách, và một số quốc gia khác đã chuẩn bị du hành tới các dịch vụ tiêu dùng trên căn bản nguồn gốc dân tộc của họ, mặc dù sự tiêu thụ các dịch vụ công cộng có thể sẽ bị hạn chế nghiêm trọng. Phương thức cung cấp dịch vụ này là phương thức ít gây ra bất đồng nhất và có lẽ là một trong các phương thức ít có xu hướng phân biệt đối xử.

>> Xem thêm:  Miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là gì ?

4. Hiện diện thương mại và các nguyên tắc không phân biệt đối xử

Trái lại phương thức cung ứng dịch vụ thứ ba được xác định trong Hiệp định GATS, việc thiết lập các cơ sở nước ngoài, lại đặt ra nhiều câu hỏi gây bất đồng hơn nhiều, chẳng hạn như về hoạt động của các quy định đối nội. Người ta có thể lập luận rằng, bảo đảm không có sự phân biệt đối xử giữa các thành viên WTO là điều thích hợp cũng giống như phân biệt đối xử ưu ái hơn cho những mối quan tâm quốc nội. Tất cả các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài cần phải có khả năng có quyền hạn giống như người trong nước trong việc thiết lập những cơ sở cung ứng dịch vụ để cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước, nhưng trong thực tế sự phân biệt đối xử như vậy thường rất khó tránh khỏi. Những vấn đề về quốc tịch, nỗi lo an ninh, các ưu đãi mang tính khu vực, những quan tâm về văn hóa và chủng tộc... tất cả đều có vai trò trong sự phân biệt đối xử giữa những nhà cung cấp dịch vụ. Trái với việc cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, sự hiện diện thương mại thường ngụ ý “sự kiểm soát của nước chủ nhà”. Nước nhập khẩu sẽ có trách nhiệm ban hành các quy định mang tính pháp lý và cấp chứng nhận cho nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp. Nhiệm vụ làm cho việc này tương thích với các nguyên tắc không phân biệt đối xử có vẻ như là một thách thức cho hệ thống thương mại trong những năm sắp tới. Các thỏa thuận song phương và khu vực giữa các quốc gia có thể là giải pháp thích hợp để gia tăng cạnh tranh trong các lĩnh vực dịch vụ quốc nội.

5. Hiện diện thể nhân và các nguyên tắc không phân biệt đối xử

Phương thức thứ tư, sự hiện diện của công nhân dịch vụ tạm thời, cũng đặt ra nhiều thách thức có ý nghĩa cho nguyên tắc không phân biệt đối xử. Tất cả các quốc gia đều có chính sách phân biệt đối xử về di cư và cấp thị thực nhập cảnh; cho nên gần như không thể đồng ý với nhau về một chính sách không phân biệt đối xử. Thực vậy, quan niệm về quốc tịch và tư cách công dân tự nó đã đâm chồi bén rễ trong sự phân biệt đối xử dù nó thường đi cùng với khả năng người nhập cư thừa nhận những nghĩa vụ và hưởng thụ những lợi ích từ sự phân biệt đối xử ưu ái cho công dân của một nước nào đó. Công nhân dịch vụ tạm thời thì thường không có được sự đối xử bình đẳng trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội. Đối với công nhân nội địa, sự phân biệt đối xử như vậy có vẻ hợp lý nhưng chắc chắn là nó sẽ gây tác động lên việc cung ứng các dịch vụ mua bán được từ phía người nước ngoài. Mặc dù nó phù hợp với lô-gic của thị trường tự do toàn cầu theo đó nhà cung cấp dịch vụ được tự do đi lại để tìm khách hàng (và ở một số khu vực trên thế giới, sự tự do đi lại như vậy được áp dụng rộng rãi có lợi cho khách hàng và cho cả công nhân nữa), sự xung đột với thực tế chính trị là điều hiển nhiên. Hệ thống thương mại có lẽ cần phải tìm một quy tắc ít không tưởng hơn trong vấn đề “sự di chuyển của con người tự nhiên”.

Bản thân Hiệp định GATS phản ánh những vấn đề này. Đối xử quốc gia chỉ được cung ứng một cách chọn lọc trong danh mục của từng quốc gia. Sự kiện các quốc gia có thể tự do hóa một số phương thức giao nhận dịch vụ nào đó mà không tự do hóa các phương thức khác củng cố cho sự mất cân bằng này. cần có thêm nhiều vòng thương thảo nữa trước khi các nhà cung ứng dịch vụ có thể quyết định mình sẽ giao dịch với ai và ở đâu để công việc kinh doanh không gặp phải sự phức tạp do các quy định quốc nội khác nhau giữa từng quốc gia.

6. Tìm hiểu về nguyên tắc MFN

Tối huệ quốc, viết tắt theo tiếng Anh là MFN (Most favoured nation), là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO. Tầm quan trọng đặc biệt của MFN được thể hiện ngay tại Ðiều I của Hiệp định GATT (mặc dù bản thân thuật ngữ ''tối huệ quốc'' không được sử dụng trong điều này). Nguyên tắc MFN được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác. Thông thường nguyên tắc MFN được quy định trong các hiệp định thương mại song phương. Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các nước sẽ dành cho nhau sự ''đối xử ưu đãi nhất''. Nguyên tắc MFN trong WTO không có tính chất áp dụng tuyệt đối. Hiệp định GATT 1947 quy định mỗi nước có quyền tuyên bố không áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp định đối với một nước thành viên khác (Trường hợp không áp dụng MFN đối với Cuba mặc dù Cuba là thành viên sáng lập GATT và WTO).

Nếu như nguyên tắc MFN trong GATT 1947 chỉ áp dụng đối với ''hàng hoá'' thì trong WTO, nguyên tắc này đã được mở rộng sang thương mại dịch vụ (Ðiều 2 Hiệp định GATS), và sở hữu trí tuệ (Ðiều 4 Hiệp định TRIPS).

Điều 2 GATS có quy định như sau:

Đối xử tối huệ quốc

1. Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi Thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác, sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác.

2. Các Thành viên có thể duy trì biện pháp không phù hợp với quy định tại khoản 1 của Điều này, với điều kiện là biện pháp đó phải được liệt kê và đáp ứng các điều kiện của Phụ lục về các ngoại lệ đối với Điều II.

3. Các quy định của Hiệp định này không được hiểu là để ngăn cản bất kỳ một Thành viên nào dành cho các nước lân cận những lợi thế nhằm tạo thuận lợi cho việc trao đổi dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trong phạm vi giới hạn của vùng biên giới.

Mặc dù được coi là ''hòn đá tảng'' trong hệ thống thương mại đa phương, Hiệp định GATT 1947 và WTO vẫn quy định một số ngoại lệ (exception) và miễn trừ (waiver) quan trọng đối với nguyên tắc MFN. Ví dụ như Ðiều XXIV của GATT quy định các nước thành viên trong các hiệp định thương mại khu vực có thể dành cho nhau sự đối xử ưu đãi hơn mang tính chất phân biệt đối xử với các nước thứ ba, trái với nguyên tắc MFN. GATT 1947 cũng có hai miễn trừ về đối xử đặc biệt và ưu đãi hơn với các nước đang phát triển. Miễn trừ thứ nhất là Quyết định ngày 25-6-1947 của Ðại hội đồng GATT về việc thiết lập ''Hệ thống ưu đãi phổ cập'' (GSP) chỉ áp dụng cho hàng hoá xuất xứ từ những nước đang phát triển và chậm phát triển. Trong khuôn khổ GSP, các nước phát triển có thể thiết lập một số mức thuế ưu đãi hoặc miễn thuế quan cho một số nhóm mặt hàng có xuất xứ từ các nước đang phát triển và chậm phát triển và không có nghĩa vụ phải áp dụng những mức thuế quan ưu đãi đó cho các nước phát triển khác theo nguyên tắc MFN. Miễn trừ thứ hai là Quyết định ngày 26-11-1971của Ðại hội đồng GATT về ''Ðàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển'', cho phép các nước này có quyền đàm phán, ký kết những hiệp định thương mại dành cho nhau những ưu đãi hơn về thuế quan và không có nghĩa vụ phải áp dụng cho hàng hoá đến từ các nước phát triển, trên cơ sở Quyết định này, Hiệp định về “Hệ thống ưu đãi thương mại toàn cầu giữa các nước đang phát triển (Global System of Trade preferences among developing Countries- GSPT) đã được ký năm 1989.

Mặc dù được tất cả các nước trong GATT/WTO công nhận là nguyên tắc nền tảng nhưng thực tế cho thấy các nước, phát triển cũng như đang phát triển, không phải lúc nào cũng tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc MFN và đã có rất nhiều tranh chấp trong lịch sử của GATT liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc này. Thông thường thì vi phạm của các nước đang phát triển dễ bị phát hiện và bị kiện nhiều hơn vi phạm của các nước phát triển.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Tập quán thương mại quốc tế là gì ? Tìm hiểu về tập quán thương mại quốc tế ?

>> Xem thêm:  Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) là gì ? Cơ cấu, tổ chức của IMO

Câu hỏi thường gặp về nguyên tắc áp dụng của GATT ?

Câu hỏi: Các phương thức cung cấp dịch vụ trong thương mại quốc tế?

Trả lời:

GATS chia ra bốn phương thức cung cấp dịch vụ mang tính thương mại quốc tế:

1. Cung cấp qua biên giới: việc cung cấp dịch vụ được tiến hành từ lãnh thổ của một nước này sang lãnh thổ của một nước khác. Ví dụ: Gọi điện thoại quốc tế, khám bệnh từ xa trong đó bệnh nhân và bác sĩ khám ngồi ở hai nước khác nhau.

2. Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: người sử dụng dịch vụ mang quốc tịch một nước đi đến một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: Sửa chữa tàu biển, Lữ hành, Du học, chữa bệnh ở nước ngoài.

3. Hiện diện thương mại: người cung cấp dịch vụ mang quốc tịch một nước đi đến một nước khác, lập ra một pháp nhân và cung cấp dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: một ngân hàng thương mại mở một chi nhánh ở nước ngoài.

4. Hiện diện thể nhân: người cung cấp dịch vụ là thể nhân  mang quốc tịch một nước đi đến một nước khác và cung cấp dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: Một giáo sư được mời sang một trường đại học ở nước ngoài để giảng bài.

 

Câu hỏi: Có những nhóm dịch vụ nào theo Tổ chức thương mại thế giới?

Trả lời:

Theo tài liệu ký hiệu MTN.GNS/W/120 của Tổ chức Thương mại Thế giới, dịch vụ được chia thành 12 nhóm lớn, trong đó lại bao gồm nhiều phân nhóm khác nhau. 12 nhóm đó là:

- Các dịch vụ kinh doanh. Ví dụ: tư vấn pháp lý, xử lý dữ liệu, nghiên cứu phát triển, nhà đất, cho thuê, quảng cáo,...

- Các dịch vụ thông tin liên lạc. Ví dụ: bưu chính, viễn thông, truyền hình,...

- Các dịch vụ xây dựng và kỹ thuật liên quan đến xây dựng. Ví dụ: xây dựng, lắp máy,...

- Các dịch vụ phân phối. Ví dụ: bán buôn, bán lẻ,...

- Các dịch vụ giáo dục.

- Các dịch vụ môi trường. Ví dụ: vệ sinh, xử lý chất thải,...

- Các dịch vụ tài chính. Ví dụ: ngân hàng, bảo hiểm,...

- Các dịch vụ liên quan đến y tế và dịch vụ xã hội.

- Các dịch vụ liên quan đến du lịch và lữ hành.

- Các dịch vụ giải trí, văn hóa, và thể thao.

- Các dịch vụ giao thông vận tải.

- Các dịch vụ khác.

Câu hỏi: Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia theo GATS?

Trả lời:

Điều 17 (GATS) Đối xử quốc gia:

1. Trong những lĩnh vực được nêu trong Danh mục cam kết, và tùy thuộc vào các điều kiện và tiêu chuẩn được quy định trong Danh mục đó, liên quan tới tất cả các biện pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ, mỗi Thành viên phải dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của mình.

2. Một Thành viên có thể đáp ứng những yêu cầu quy định tại khoản 1 bằng cách dành cho dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ một Thành viên nào khác một sự đối xử tương tự về hình thức hoặc sự đối xử khác biệt về hình thức mà thành viên đó dành cho dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của mình.

3. Sự đối xử tương tự hoặc khác biệt về hình thức được coi là kém thuận lợi hơn nếu nó làm thay đổi điều kiện cạnh tranh có lợi cho dịch vụ hay nhà cung cấp dịch vụ của Thành viên đó so với dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ Thành viên nào khác.