1. Cạnh tranh

1.1 Vai trò

Cạnh tranh rõ ràng đã được thừa nhận như một nguyên tắc hiến định thông qua việc sửa đổi Hiến pháp. Đây là sự khẳng định quyết tâm của nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường. Để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh, mà phải trong một thời gian không ngắn mới có được nhận thức như vậy, pháp luật có hai nhiệm vụ liên quan tói vâh đề này: Một là tạo ra môi trường cho hoạt động cạnh tranh và cơ chế bảo đảm cho quyền được cạnh tranh; hai là chông lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

1.2 Cạnh tranh trong khuôn khổ quy định của pháp luật

Luật Cạnh tranh 2018 tuyên bô' các thương nhân được tự do cạnh tranh và Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp. Tuy nhiên, việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của pháp luật
Những quan điểm chủ yếu trong việc cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Trong đời sông kinh doanh có những hành vi gây ảnh hưởng đêh môi trường cạnh tranh lành mạnh. Do đó pháp luật của các nước có nhìn nhận đến các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Có thể hiểu thỏa thuận hạn chê' cạnh tranh là thỏa thuận của hai hay nhiều thương nhân có mục đích thủ tiêu cạnh tranh hoặc cản trở sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh hay sự tham gia thị trường của các thương nhân khác. Luật Cạnh tranh 2018 qui định tám loại thỏa thuận hạn chê' cạnh tranh, bao gồm: (1) Thoả thuận ân định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; (2) thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; (3) thoả thuận hạn chế hoặc kiếm soát sô' lượng, khối lượng sản xuâ't, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; (4) thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; (5) thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đổng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chap nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của họp đổng; (6) thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; (7) thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận; và (8) thông đổng đê’ một hoặc các bên của thoá thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ (Điều 8). Các thỏa thuận thứ 6, 7 và 8 nêu trên bị câm. Còn các thoả thuận thứ 1, 2, 3, 4 và 5 nêu trên chỉ bị câm khi các bên tham gia thoả thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên. Tuy nhiên đôì với các loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm có điều kiện này có thê’ được miễn trừ có thời hạn nếu làm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng và đáp ứng được một trong các điều kiện sau: hoặc (1) hợp lý hoá cơ câu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh; hoặc (2) thúc đẩy tiên bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ; hoặc (3) thúc đẩy việc áp dụng thống nhát các tiêu chuẩn châ't lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; hoặc (4) thông nhâ't các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yêù tô' của giá; hoặc (5) tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; hoặc (6) tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

1.3 biểu hiện của hạn chế cạnh tranh

Việc hạn chê' cạnh tranh cũng biêù hiện dưới dạng lạm dụng vị trí thôhg lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền. Do đó đê’ kiếm soát các thương nhân lạm dụng các vị trí này gây ảnh hưởng không tốt tới môi trường cạnh tranh, pháp luật qui định cấm một sô' hành vi lạm dụng như vậy. Đô'i với lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, các hành vi sau bị cấm:
+ Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đôì thủ cạnh tranh;
+ Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất họp lý hoặc ân định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
+ Hạn chế sản xuâ't, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
+ Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bâ't bình đẳng trong cạnh tranh;
+ Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đổng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
+ Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đô'i thủ cạnh tranh mới.
Đổì với lạm dụng vị trí độc quyền, các hành vi bị câm bao gổm các hành vi trên và thêm vào đó là các hành vi áp đặt các điều kiện bâ't lợi cho khách hàng, lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.
Sự tham gia vào thị trường một cách ồ ạt, sự bung ra khỏi các kìm nén lâu năm, sự thiếu kinh nghiệm trong việc điều tiết kinh tế thị trường, cùng vói sự du nhập các mánh khoé làm ăn từ bên ngoài đang là các yếu tô' thúc đẩy cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện ngày một gia tăng gây ảnh hưởng xâu tới môi trường cạnh tranh ở nước ta. Thế nhưng sự chú ý hơn tới khía cạnh tạo môi trường cho hoạt động cạnh tranh đã làm cho pháp luật có phần xao nhãng hay ít chú ý hơn tói nhiệm vụ chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh không lành mạnh hay cạnh tranh không công bằng (unfair competition) thuộc qui chế thương nhân - một chê' định của luật thương mại. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, thì chính sách cạnh tranh không thể chỉ giói hạn việc cạnh tranh trong sự tham gia cạnh tranh của các thương nhân, mà còn phải thừa nhận cả sự cạnh tranh của các tổ chức và cá nhân không phải là thương nhân. Vì vậy vân đê' cạnh tranh không lành mạnh nhiều khi còn được xem xét tách biệt với qui chế thương nhân, và có liên quan tới hành vi thương mại.
Hiện nay trên thế giói có những cách tiếp cận khác nhau về cạnh tranh không lành mạnh. Cách thứ nhất cho rằng cạnh tranh xâm phạm tới lợi ích tư, nên thuộc phạm vi của luật tư. Cách thứ hai lại quan niệm cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm tới trật tự công cộng (trật tự kinh tế công), do đó phải áp dụng các giải phầp của luật công. Tuy nhiên cũng có quan niệm sử dụng cả giải pháp của luật công và giải pháp của luật tư đối với cạnh tranh không lành mạnh . Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam đã nghiêng về cách nhìn của luật công hơn đổì với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Theo đạo luật này, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng và bao gồm:
1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
2. Xâm phạm bí mật kinh doanh;
3. Ép buộc trong kinh doanh;
4. Gièm pha doanh nghiệp khác;
5. Gây rôì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
6. Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
7. Khuyên mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
8. Phân biệt đôì xử của hiệp hội;
9. Bán hàng đa cap bâ't chính.
Chính phủ có thê’ quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác phù hợp với các qui định của đạo luật này.
Các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh khiến thượng nhân có thê’ phải gánh chịu chế tài, kê’ cả trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên luật hình sự Việt Nam không truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân sẽ gây khó khăn nhâ't định cho việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.

2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Người tiêu dùng có thê’ là thê’ nhân hoặc pháp nhân, vì mục đích phi kinh doanh của bản thân, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ do tự mình giao dịch mà có hoặc thụ hưởng hàng hóa hoặc dịch vụ do người khác mang lại. Nhiều nước tiếp cận khái niệm người tiêu dùng theo cách này.
Adam Smith cho rằng tiêu dùng là kết quả và mục đích duy nhất của sản xuất và lợi ích của nhà sản xuất. Người tiêu dùng luôn ở thế yêù hon trong môì quan hệ với thưong nhân xét ở hai khía cạnh. Thương nhân thông thạo hơn trong các giao dịch liên quan tới ngành nghề kinh doanh và có tiềm lực kinh tế lớn hơn trong việc kinh doanh ngành nghề đó. Ngược lại người tiêu dùng yếu thế hơn trong các vân đề liên quan tới hai khía cạnh này. Chẳng hạn: Tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng hoá, dịch vụ; đàm phán, giao kết họp đồng; khả năng chi phôi giá cả, các điều kiện giao dịch trên thị trường; khả năng gánh chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm. Ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sau một thời gian đâu tranh dài, Đại hội đồng Liên Họp Quốc đã bỏ phiếu thông qua Nghị quyết số 39/248 về các Hướng dẫn về bảo vệ người tiêu dùng. Các quyền của người tiêu dùng từ đó đã được cộng đồng quôc tê'công nhận. Người tiêu dùng có các quyền cơ bản sau đây: (1) Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; (2) quyền được an toàn; (3) quyền được thông tin; (4) quyền được lựa chọn; (5) quyền được lắng nghe hay quyền được đại diện; (6) quyền được khiếu nại và bổi thường; (7) quyển được giáo dục vể tiêu dùng; và (8) quyền được có môi trường sôhg lành mạnh và bền vững.
Các quyền cơ bản này ứng với các nghĩa vụ của thương nhân - người cung cap hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Các nghĩa vụ này bao gổm: (1) Nghĩa vụ cung cấp thông tin; (2) nghĩa vụ bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng;
(3) nghĩa vụ bảo đảm quyền lựa chọn cho người tiêu dùng;
(4) nghĩa vụ lắng nghe ý kiến của người tiêu dùng; (5) nghĩa vụ bảo hành sản phẩm; (6) nghĩa vụ giải quyết khiêu nại của người tiêu dùng; và (7) nghĩa vụ bổi thường thiệt hại cho người tiêu dùng.
Vân đê' bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hay nghĩa vụ của thương nhân trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được chứa đựng trong các văn bản pháp luật khác nhau không chỉ dừng lại ở Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, mà còn ở nhiều đạo luật khác.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê