1. Những vấn đề mới về các công cụ mới, nhân tố mới và liên minh mới ?

Sau hội nghị thành lập WTO ở Marrakesh, cuộc họp cấp bộ trưởng đầu tiên của tổ chức diễn ra tại Singapore năm 1996. Là cao điểm của hệ thống thương mại mới xét về nhiều phương diện, thậm chí Hội nghị Bộ trưởng ở Singapore còn đưa WTO lên một con đường mới, nhiều tham vọng hơn nữa. Không chỉ củng cố nghị trình mở rộng quy tắc thương mại thừa kế từ Vòng Uruguay, các bộ trưởng thương mại còn bắt đầu khám phá những địa hạt mới. Mặc dù đã rõ ràng các địa hạt mới này cần có thời gian thương thảo, nhiều nhóm công tác đã được thành lập để xem xét các khả năng lựa chọn và các thể thức xây dựng quy tắc cho những chủ đề mới này. Ba nhóm công tác chủ yếu sẽ nghiên cứu thương mại và đầu tư, thương mại và cạnh tranh và tính minh bạch trong hoạt động mua sắm của chính phủ. Ngoài ra, Hội đồng Hàng hóa (Goods Council) sẽ xem xét khả năng tiến tới các cuộc thương thuyết sâu xa hơn về việc tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại.

Cuộc họp thứ hai của các bộ trưởng WTO diễn ra ở Seattle, nơi các đại biểu gặp phải cuộc biểu tình phản đối và bạo loạn mạnh mẽ đến mức hội nghị gần như sụp đổ. Phần lớn sự quan tâm, cả trong và ngoài Cung Hội nghị ở Seattle, đã không tập trung vào “những vấn đề Singapore”. Hai chủ đề chính xuyên suốt các cuộc họp của các tổ chức phi chính phủ trên đường phố, cũng như những căng thẳng giữa nhóm nước đã phát triển và nhóm nước đang phát triển trong hội trường là vai trò của WTO trong các lĩnh vực môi trường và lao động. Liên minh xanh lục-xanh lam đã nổi lên từ cuộc phản đối vụ Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn các Hiệp định tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã ngồi lại bên nhau và nổi bật lên trong một cuộc trình diễn sân khấu đầy ấn tượng trên đường phố Seattle. Nhưng bất chấp những tương đồng trong một số vấn đề, hên minh này lại gặp khó khăn trong việc duy trì một mặt trận thống nhất, và giờ đây những vấn đề đó lại bị chia rẽ trong chương trình nghị sự của WTO. Những cuộc tranh luận về môi trường lại được đem ra tranh luận tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm tại Cancún vào tháng 9-2003. Trong lúc vấn đề lao động không được bao hàm một cách chính thức trong chương trình nghị sự hiện hành của WTO, ban thư ký WTO đã phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) - thuận lợi là cả hai cơ quan này đều đặt trụ sở tại Geneva.

2. Điều gì đã đưa các vấn đề mới vào nghị trình thương mại?

Mỗi đề tài có một câu chuyện riêng song có một mạch chung nhất. Mỗi đề tài đều có thể được coi như một sự “tràn bờ” từ các vòng đàm phán trước đây về tự do hóa thương mại. Khi hội nhập càng sâu, khi các rào cản thương mại được tháo dỡ, mỗi vấn đề trong số các vấn đề này càng trở nên nổi bật trong mắt các nhà hoạt động phi nhà nước đặc trưng ở châu Âu và Hoa Kỳ. Công cuộc di chuyển tự do hơn của hàng hóa giúp các nhà sản xuất gia tăng hiệu quả bằng cách thiết lập mạng lưới sản xuất xuyên biên giới - đưa vào trong tầm tay các quan hệ hợp đồng giữa các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia khác nhau cúng thực hiện một số chức năng cần thiết cho nghiên cứu, thiết kế, xây dựng và phân phối sản phẩm. Nhưng sự luân chuyển tự do hơn của hàng hóa cũng khiến các nhà sản xuất có nhu cầu thiết lập xí nghiệp ở nước ngoài để thực hiện các chức năng ấy; nhu cầu kinh tế đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại được diễn dịch thành các nhu cầu chính trị bởi các doanh nghiệp của châu Âu và Hoa Kỳ muốn bảo đảm các quy tắc đầu tư được tự do và không bị trói buộc ở các quốc gia khác. Tương tự như vậy, khi các biện pháp hạn chế do các chính phủ áp đặt ở biên giới đã được giảm thiểu, các hoạt động độc quyền hoặc lấn át thị trường nổi lên thành những rào cản đáng chú ý nhất đối với việc phân phối hàng hóa vào một số thị trường nào đó, nhất là ở châu Á. Khi các rào cản thương mại bị phá bỏ, các nhà hoạt động môi trường quan tâm nhiều hơn tới sản phẩm “bẩn” có thể được nhập khẩu vào nước họ, tới việc vốn đầu tư sẽ chuyển tới các quốc gia có hệ thống tiêu chuẩn môi trường thấp hơn, đe dọa gây ra một “cuộc đua tới đáy” trong vấn đề tiêu chuẩn môi trường quốc gia. Và khi các rào cản thương mại không còn nữa, các tổ chức công đoàn e ngại doanh nghiệp sẽ chuyển hướng đầu tư và sản xuất tới các quốc gia có tiêu chuẩn lao động ít khắt khe hơn, và như thế sẽ đe dọa một “cuộc đua tới đáy” trong lĩnh vực tiêu chuẩn lao động.

Để giải quyết mối quan tâm đến từng lĩnh vực trong các lĩnh vực mới mẻ này, các nguyên tắc cũ của GATT tỏ ra không đầy đủ. Những vấn đề này đã đi xa hơn là sự phân biệt đối xử hay các biện pháp hạn chế ở biên giới đơn thuần. Trong cả bốn lĩnh vực nói trên, tính nghiêm ngặt, sự thực thi và kiểu mẫu của hệ thống điều hành quốc gia đều gặp nguy hiểm. Ví dụ, những quy tắc của WTO có nên đòi hỏi một cấp độ cao về bảo vệ môi trường hay không? Có cách nào bảo đảm các quy tắc này được thực thi có hiệu quả hay không? Và nên khuyến khích việc thực thi các quy tắc này thông qua hệ thống dựa trên thị trường hay hệ thống điều hành ra lệnh và kiểm soát từ trên xuống dưới?

3. Liên minh mới giữa các nhà hoạt động phi nhà nước (nonstate actor)

Sự nổi lên của những vấn đề này, cùng với giải pháp cho chúng, đưa đến sự ra đời các liên minh mới giữa các nhà hoạt động phi nhà nước (nonstate actor) trong lĩnh vực chính sách thương mại đối nội. Ví dụ, nỗ lực thành công trong việc đề cao các mối quan tâm về môi trường có thể đưa các nhà hoạt động môi trường đến chỗ liên minh với các nhà sản xuất đang cạnh tranh với hàng nhập khẩu ở châu Âu và Hoa Kỳ để cùng ủng hộ WTO đồng thời phản đối các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển. Trái lại, thất bại liên tiếp trong việc đề cao các mối quan tâm về môi trường có thể làm căng thẳng hơn sự phản đối của các nhà hoạt động môi trường ở châu Âu và Hoa Kỳ đối với WTO và sứ mệnh của nó. Những động lực tương tự cũng diễn ra trong lĩnh vực lao động nhưng một số nhà phân tích cho rằng không một chính sách nào phù hợp với công cuộc tự do hóa thương mại mà có thể khiến lực lượng lao động quy tụ trong các nghiệp đoàn ở châu Âu và Hoa Kỳ ủng hộ WTO. Tự do hóa đầu tư nhận được sự ủng hộ của các nhóm doanh nghiệp và hiệp hội thương mại ở phương Bắc song đồng thời thúc đẩy sự phản đối của các nhà hoạt động môi trường và các tổ chức nghiệp đoàn cũng ở phương Bắc, các nhà chính trị dân túy và các lĩnh vực được bảo hộ ở các nước phương Nam. Những nỗ lực trong khuôn khổ WTO nhằm nêu lên các chính sách về cạnh tranh nhận được sự ủng hộ của các nhà sản xuất hướng tới xuất khẩu ở châu Âu và Hoa Kỳ - những người đang muốn gia tăng quyền tiếp cận vào các thị trường châu Á vốn có mạng lưới phân phối khép kín - nhưng gặp phải sự lãnh đạm của các nhà sản xuất hướng tới nhập khẩu, những người e ngại rằng những nỗ lực ấy có thể làm suy yếu các quy tắc chống bán phá giá đang bảo vệ họ chống lại việc thôn tính bằng giá cả của các tập đoàn công ty nước ngoài.

4. Thương mại và Đầu tư

So với hiệp định TRIPS, Hiệp định của Vòng Uruguay về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Trade-Related Investment Measures - TRIMS) ít có ý nghĩa đối với doanh nghiệp, ít gây ra tranh luận hơn nhưng dù sao nó cũng khai phá một vùng đất mới. Hiệp định này liên quan tới nhiều lựa chọn về chính sách đối nội chứ không chỉ tập trung rõ ràng vào các chính sách ở biên giới. Chính sách đầu tư nằm ở trung tâm của chiến lược phát triển nhưng cũng hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp muốn mở rộng sự hiện diện ở nước ngoài. Hiệp định TRIMS không đòi hỏi quy chế tối huệ quốc hoặc đối xử quốc gia đối với các nhà đầu tư nước ngoài trừ những quy tắc ràng buộc đầu tư với hoạt động thương mại và do đó hiệp định TRIMS sẽ hạn chế sự từ chối cách đối xử quốc gia đối với hàng hóa. Đính kèm theo Hiệp định có một danh sách minh họa những yêu cầu không thể chấp nhận được đối với hoạt động đầu tư, trong đó bao hàm những đòi hỏi về nội dung nội địa hóa chẳng hạn - nghĩa là đòi hỏi các doanh nghiệp đầu tư ở một quốc gia nào đó phải sử dụng một tỷ lệ nào đó linh kiện phụ tùng sản xuất tại địa phương.

Cũng như hiệp định TRIPS, về bản chất hiệp định TRIMS là một dự án hạ tầng cơ sở cho thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, khác với hiệp định TRIPS, nó tập trung chú ý vào những chính sách quốc gia làm méo mó hoạt động thương mại. Đặc biệt, những sự bóp méo thương mại phải bị hủy bỏ bằng cách hạn chế những chính sách không phù hợp, ví dụ như ra điều kiện cho nhà đầu tư từ bên ngoài vào phải mua sắm nguyên vật liệu tại địa phương (nội địa hóa) hoặc phải đạt một mục tiêu xuất khẩu nào đó (đòi hỏi về cân bằng thương mại). Nhưng còn có một ẩn ý không nói ra trong hiệp định TRIMS là ý định hạn chế sự kiểm soát mà các nước đang phát triển đang áp dụng đối với chính sách phát triển của chính họ. Đến khi nào họ còn bị hạn chế, không được theo đuổi những chính sách kém thông minh thì điều này có thể là hợp lý song dù sao đó vẫn tiêu biểu cho một sự xâm phạm đáng kể vào chủ quyền kinh tế quốc gia.

5. Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong Hiệp định TRIMS

Nguyên tắc không phân biệt đối xử chi có liên hệ yếu ớt với hiệp định TRIMS: các quốc gia vẫn có thể quyết định ưu ái cho đầu tư trong nước hơn đầu tư nước ngoài, quyết định ưu tiên tiếp nhận đầu tư từ quốc gia nào. Tương tự như vậy, trong khi công nghiệp Hoa Kỳ mong muốn thỏa thuận này đòi hỏi sự đối xử quốc gia về quyền thiết lập doanh nghiệp kinh doanh và về những vấn đề khác nhằm không có sự phân biệt giữa các quy định về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài song thỏa thuận không đi xa tới mức đó (Graham 1998). Sự trao đổi lẫn nhau giữa những nghĩa vụ và những sự nhân nhượng cũng có rất ít ý nghĩa khi thương thảo về những vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Có thể diễn tả nguyên tắc hướng dẫn những người úng hộ hiệp định TRIMS như là “khả năng đầu tư không giới hạn” ở nước ngoài mà nước chủ nhà không thể áp đặt điều kiện gì. Mặc dù việc cấm đòi hỏi nội địa hóa chắc chắn sẽ giúp gỡ bỏ một rào cản thương mại, thỏa thuận là một khởi đầu mới, rời xa khỏi quan niệm rằng hạn chế hành động của các quốc gia ở biên giới và ngăn ngừa “những cái bên ngoài” đã liên kết với những chính sách đối nội.

Cuộc thương thảo về những quy tắc cải tiến chi phối thương mại và đầu tư đã được nhất trí xem xét tại Vòng Doha mặc dù kết quả hội nghị bộ trưởng tại Cancún chứng tỏ rằng những cuộc thương thảo như vậy không phải là không gây ra nhiều tranh cãi. Mặc dù một số doanh nghiệp ở các quốc gia phát triển khác cũng là những người ủng hộ, áp lực chính thúc đẩy sáng kiến đó đã đến từ EU; châu Âu cho rằng đây là một sự kéo dài đáng mong muốn các quy tắc thương mại. Nhưng kinh nghiêm đối phó với sự phản đối gay gắt của các nhà hoạt động môi trường và các nhà hoạt động nghiệp đoàn đối với các cuộc thương thảo về Hiệp định Đa phương về Đầu tư (Multilateral Agreement on Investment - MAI), thảo luận và rồi bị các quốc gia phát triển OECD bãi bỏ đã khiến nhiều nước lo lắng về việc mở rộng hiệp định TRIMS, với tầm vóc hạn chế của nó về những biện pháp liên quan tới thương mại, thành một bộ quy tắc chung các điều khoản về đầu tư.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)