- 1. Cơ sở pháp lý:
- 2. Luật sư tư vấn:
- 1, Hợp đồng thử việc là gì?
- 2, Cơ sở pháp lý về thử việc?
- 3, Luật không bắt buộc phải thử việc nhưng đã có thử việc thì phải có hợp đồng thử việc.
- 4, Cần làm rõ lương trong thời gian làm thử và lương chính thức.
- 5, Sau thử việc Công ty không ký HĐLĐ mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì coi như HĐLĐ đã được giao kết
- 6, Cần xác định loại hợp đồng sẽ ký sau thời gian thử việc.
- 7, Nghĩa vụ chứng minh việc làm thử không đạt yêu cầu
- 8, Phải thông báo kết quả công việc làm thử, khi thử việc đạt yêu cầu phải giao kết hợp đồng lao động
- 9, Công ty phải trả trợ cấp thôi việc, Trợ cấp mất việc làm cho thời gian thử việc khi NLĐ đủ điều kiện hưởng
Hợp đồng thử việc là gì? Cơ sở pháp lý về thử việc? Những điểm cần lưu ý về thử việc theo quy định của pháp luật lao động hiện hành là gì?
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP
- Nghị định 28/2020/NĐ-CP
2. Luật sư tư vấn:
Phần lớn các công ty và người lao động không biết đầy đủ những vấn đề quan trọng về thử việc. Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn đưa tới bạn đọc quan tâm tới pháp luật lao động những điểm cần lưu ý về thử việc như sau:
1, Hợp đồng thử việc là gì?
Thử việc là giai đoạn bản lề, góp phần quyết định sự hợp tác giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Hợp đồng thử việc chính là một loại văn bản, tài liệu thể hiện sự thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động về việc sẽ làm thử có thu nhập trong một khoảng thời gian nhất định. Trong đó có các thông tin về quy định cũng như điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của cả hai bên khi tham gia quan hệ lao động. Và việc hợp đồng thử việc được ký kết cũng dựa theo nguyên tắc tự nguyện của đôi bên.
2, Cơ sở pháp lý về thử việc?
Từ Điều 24 đến Điều 27 Bộ luật lao động năm 2019
Điều 24. Thử việc
1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc.
2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.
3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.
Điều 25. Thời gian thử việc
Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:
1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;
2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;
4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.
Điều 26. Tiền lương thử việc
Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.
Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc
1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.
Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.
Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.
2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.
3, Luật không bắt buộc phải thử việc nhưng đã có thử việc thì phải có hợp đồng thử việc.
Nội dung của Hợp đồng thử việc phải có các nội dung theo quy định tại Điều 24 Bộ luật lao động (dẫn chiếu lại nội dung tại Điều 21 Bộ luật lao động). Offer Letter (tạm dịch thư đề nghị công việc) có được xem là hợp đồng thử việc hay không? Nếu Offer Letter có đủ các nội dung của Điều 24 Bộ luật lao động và có sự giao kết của hai bên thì vẫn được xem là Hợp đồng thử việc.
Thực tế là rất nhiều công ty đã không chịu ký hợp đồng thử việc với người lao động. Người lao động vẫn chấp nhận để làm theo diện thử việc. Thực tế này dẫn đến rủi ro rất lớn cho cả hai bên. Cụ thể:
Về phía Công ty vì không có hợp đồng thử việc nên không xác định rõ ràng thời gian thử việc là bao lâu, không xác định được mức lương làm thử. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp mà có tình tiết nào đó xác định công việc làm thử, thời gian thử việc và mức lương khác với thực tế Công ty đang áp dụng đối với người lao động thì Công ty có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như quy định tại Điều 9 Nghị định 28/2020/NĐ-CP.
Về phía người lao động vì không có hợp đồng thử việc nên khó có căn cứ để yêu cầu Công ty trả lương mà các bên thỏa thuận khi làm thử, rồi dễ dàng bị Công ty cho rằng không đạt yêu cầu công việc làm thử v.v…
Ví dụ, tình huống công ty thử việc 2 tháng đối với người lao động nhưng công việc làm thử chỉ là công việc có tính mùa vụ, mà lúc đó có chứng cứ chứng minh sự việc trên là đúng thì Công ty có thể bị xử phat vi phạm hành chính. Một khía cạnh khác nếu người lao động chứng minh được ban đầu Công ty chỉ yêu cầu thử việc 1 tháng nhưng thực tế đã làm ở tháng thứ 2, sau đó Công ty chấm dứt quan hệ lao động thì Công ty sẽ gặp rủi ro về xử phạt vi phạm hành chính và vi phạm về đơn phương chấm dứt hợp đồng. Trong khi đó người lao động cũng không có bằng chứng ghi nhận rõ ràng mức lương, thời gian thử việc để có cơ sở yêu cầu Công ty trả đủ.
Tóm lại, đã có thử việc thì các bên cần phải có hợp đồng làm thử. Việc không có hợp đồng làm thử dễ dàng nảy sinh nhiều tranh chấp khó lường.
4, Cần làm rõ lương trong thời gian làm thử và lương chính thức.
Thực tế có nhiều tranh chấp tồn tại ngầm trong mối quan hệ lao động mà Công ty chỉ được biết khi quan hệ hai bên trở nên tồi tệ. Một trong các lý do đó xuất phát từ việc đàm phán, ghi nhận và chi trả tiền lương cho người lao động. Rất nhiều người lao động nghĩ rằng mình bị Công ty “lừa” khi được nhận thư mời việc với mức lương thử việc là X đồng (85% của mức lương chính thức) và nghĩ rằng mình có thể hưởng mức lương chính thức cao hơn là Y (100% của lương chính thức). Theo Bộ luật lao động, tiền lương trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương chính thức. Điều luật này cho phép Công ty và người lao động thỏa thuận trả luôn 100% lương ngay trong thời gian thử việc.
Tuy nhiên, trong kỹ thuật soạn thảo hợp đồng thử việc nếu không làm rõ được Công ty sẽ trả lương thử việc bằng 100% lương chính thức hay bao nhiêu phần của lương chính thức (ít nhất bằng 85% lương chính thức) mà để người lao động nhận ngay từ đầu mức lương của mình thì sẽ dẫn đến nảy sinh mối hoài nghi, ngờ vực và dễ dàng xảy ra tranh chấp.
Tóm lại, Công ty phải ghi rõ trong hợp đồng thử việc lương được trả trong thời gian thử việc là bao nhiêu phần trăm của lương chính thức. Người lao động cũng cần nhận thức rõ vấn đề này để thương lượng với Công ty.
5, Sau thử việc Công ty không ký HĐLĐ mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì coi như HĐLĐ đã được giao kết
Ở văn bản pháp luật lao động trước đây đã quy định rõ ràng nếu người lao động không được thông báo sau khi hết thời gian thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức. hiện giờ những văn bản đó đã hết hiệu lực. Bộ luật lao động năm 2019 không có quy định cụ thể về việc này. Tuy nhiên qua thực tiễn xét xử thì đa phần các thẩm phán vẫn duy trì quan điểm mà các văn bản cũ đã hết hiệu lực rằng hợp đồng lao động đã được giao kết trong trường hợp này.
Ngoài ra, trong tình huống này có nhiều quan điểm cũng đồng thuận cho rằng đây là trường hợp sự im lặng của Công ty được xem là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng lao động của người lao động (khi người lao động đến Công ty để làm việc bình thường). Đây là một dạng của sự im lặng được xem chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng do thói quen đã được xác lập trước giữa người lao động và Công ty. Ở địa vị của Công ty, thực sự Công ty cũng không thể chứng minh điều ngược lại khi vẫn chấm công (nếu có), vẫn giao việc cho người lao động.
Tóm lại, hợp đồng lao động sẽ được xem là đã giao kết nếu Công ty vẫn im lặng và để người lao động đến Công ty tiếp tục làm việc.
6, Cần xác định loại hợp đồng sẽ ký sau thời gian thử việc.
Theo quy định của Điều 24 và Điều 21 Bộ luật lao động năm 2019, hợp đồng lao động phải có nội dung về thời hạn của hợp đồng lao động, thời hạn của hợp đồng sẽ giúp xác định được thời điểm bắt đầu và/hoặc thời điểm kết thúc của hợp đồng.
Vận dụng vào hợp đồng thử việc, luật yêu cầu các bên phải thỏa thuận về thời hạn của hợp đồng thử việc (cũng chính là loại hơp đồng lao động). Tuy nhiên, thực tế thì có nhiều hợp đồng thử việc bỏ quên việc thỏa thuận về loại hợp đồng lao động sẽ ký sau khi hết thời gian thử việc.
Nhiều Công ty cố tình quên thỏa thuận loại hợp đồng sẽ ký sau khi thời gian thử việc để có thể chủ động quyết định loại hợp đồng lao động sẽ ký sau thời gian thử việc. Hiện nay luật không có quy định xử phạt vi phạm hành chính hoặc tuyên bố hợp đồng thử việc vô hiệu do thiếu nội dung này.
Câu hỏi đặt ra là nếu vậy sau thời gian thử việc các bên sẽ phải ký loại hợp đồng nào? Hiện nay Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định hướng dẫn cho trường hợp này. Nhìn ở góc độ nghĩa vụ của Công ty khi tuyển dụng người lao động Công ty phải có nghĩa vụ thông báo công khai về nhu cầu tuyển dụng trong đó có các nội dung như nghề, công việc, số lượng tuyển, loại hợp đồng dư kiến giao kết. Thực tiễn về tố tụng, đa phần các thẩm phán sẽ căn cứ vào vào thông tin tuyển dụng, các thông tin trao đổi mà Công ty gửi đến người lao động và các tài liệu có liên quan khác để xác định ý chí về hợp đồng lao động sẽ được ký kết sau khi hết thời gian thử việc.
Tóm lại, kể cả trong trường hợp hợp đồng thử việc không có đề cập đến nội dung về loại hợp đồng lao động sẽ ký kết sau khi hết thời gian thử việc nhưng Công ty vẫn phải ký loại hợp đồng lao động đã được dự kiến trong khi trao đổi thông tin với người lao động.
7, Nghĩa vụ chứng minh việc làm thử không đạt yêu cầu
Nghĩa vụ chứng minh việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận khi muốn hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường. Ở vị trí người lao động, mỗi khi thử việc ở một Công ty nào đó đều “thấp thỏm” lo âu về rủi ro bị hủy bỏ hợp đồng thử việc và trở thành người thất nghiệp tạm thời. Chính vì vậy, mà phần lớn người lao động thường phải nỗ lực để đáp ứng yêu cầu về việc làm thử và thể hiện được năng lực của mình. Ở địa vị của Công ty, khi đưa ra yêu cầu thử việc cũng muốn tìm được nhân tài để hợp tác dài hạn. Hiện nay, thời gian mà luật yêu cầu là 180 ngày đối với nhiều công việc phức tạp hoặc ở vị trí quản lý, đây là khoảng thời gian hợp lý để có thể đánh giá được năng lực và sự phù hợp vị trí công việc của người lao động.
Tuy vậy, thực tế là có nhiều tình huống thực tiễn các bên đã nhanh chóng chia tay nhau trong thời gian rất ngắn trước khi hết thời gian thử việc. Có những cuộc chia tay trong vui vẻ, đồng thuận nhưng cũng có những cuộc chia tay trong uất hận, thù ghét và xem thường. Tranh chấp lao động cũng bắt đầu nảy sinh từ đây. Câu hỏi là làm thế nào để chia tay trong thời gian thử việc một cách chuyên nghiệp và tuân thủ quy định của pháp luật?
Ở đây, xin nhấn mạnh một vấn đề của luật mà đa phần cả Công ty và người lao động đều bỏ quên, luật sử dụng cụm từ “trường hợp thử việc không đạt yêu cầu”. Điều này nghĩa là ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng thử việc các bên phải đưa ra yêu cầu của mình.
Thực tình thì ở vị trí người lao động, họ không thể có yêu cầu gì đối với công ty ngoài tiền lương, vị trí công việc và thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi. Tuy nhiên, luật đã yêu cầu là chỉ được chấm dứt thỏa thuận thử việc nếu thử việc không đạt yêu cầu. Như vậy, khi người lao động chấm dứt hợp đồng thử việc, người lao động cũng phải có nghĩa vụ chứng minh việc làm thử đã không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận. Ví dụ như, người lao động lấy lý do mình bị giao các công việc không có trong thỏa thuận thử việc hoặc mình không nhận được lương đầy đủ như đã thỏa thuận, …vv.
Cùng với đó, nghĩa vụ của Công ty cũng phải chứng minh việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận. Điều này nghĩa là khi Công ty ra quyết định chấm dứt hợp đồng thử việc trước khi kết thúc thời gian thử việc, Công ty cũng phải chứng minh rằng người lao động đã thực hiện công việc làm thử không đạt yêu cầu của mình mà hai bên đã thỏa thuận. Ví dụ như, năng lực chuyên môn của người lao động không đủ đáp ứng yêu cầu, tuyển vị trí kế toán thuế nhưng người lao động không biết gì về làm báo cáo thuế hay không biết quy định về kế toán thuế để dẫn đến Công ty vi phạm về kế toán thuế…vv.
Quay lại với thực tiễn thì không có nhiều tranh chấp lao động mà tòa án thụ lý với lý do chấm dứt hợp đồng thử việc trước khi hết thời hạn thử việc. Dẫn đến cách hiểu là Công ty và Người lao động chỉ cần tuân thủ vấn đề thủ tục là phải trước khi thời hạn thử việc kết thúc mà không quan tâm đến nghĩa vụ phải chứng minh việc làm thử không đạt yêu cầu mà các bên đã thỏa thuận. Lý do cho thực tiễn này là việc khởi kiện dù xuất phát từ Công ty hay người lao động thì lợi ích mà một bên có được cũng không đáng kể. Công ty có thắng kiện thì cũng không sẵn sàng nhận 1 người lao động mà không muốn làm việc cho mình. Người lao động thắng kiện thì cũng khó có thể phát triển ở một công ty không muốn mình làm việc.
Tóm lại, để hạn chế rủi ro pháp lý và thể hiện sự chuyên nghiệp, Công ty và người lao động cũng cần phải chú ý đến vấn đề bằng chứng chứng minh việc làm thử không đạt yêu cầu.
8, Phải thông báo kết quả công việc làm thử, khi thử việc đạt yêu cầu phải giao kết hợp đồng lao động
Công ty có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng nếu không thông báo kết quả công việc làm thử cho người lao động khi kết thúc thời gian thử việc. Công ty có thể bị xử phạt từ 2 triệu đến 5 triệu đồng nếu không giao kết hợp đồng lao động khi kết thúc hợp đồng lao động mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc. (Điều 9 Nghị định 28/2020/NĐ-CP)
Điều 9. Vi phạm quy định về thử việc
1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;
b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;
b) Thử việc quá thời gian quy định;
c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;
d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
Nhiều công ty xem nhẹ việc tuân thủ các quy định pháp luật nêu trên vì thực tế không có nhiều doanh nghiệp bị phát hiện vi phạm hành chính trong hai vấn đề trên. Tuy nhiên, nếu tranh chấp lao động phát sinh mà người lao động khiếu nại, khởi kiện và các cơ quan có thẩm quyền phát hiện ra hành vi vi phạm này thì Công ty có thể sẽ phải chịu mức phạt nêu trên.
Tóm lại, Công ty cần tuân thủ pháp luật lao động để giảm thiểu rủi ro về tài chính do những hành vi nêu trên gây ra.
9, Công ty phải trả trợ cấp thôi việc, Trợ cấp mất việc làm cho thời gian thử việc khi NLĐ đủ điều kiện hưởng
Công ty không phải đóng các chế độ bảo hiểm (bảo hiểm xã hội bắt buộc; bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp) nhưng Công ty phải trả trợ cấp thôi việc, Trợ cấp mất việc làm cho thời gian thử việc khi người lao động đủ điều kiện được hưởng. Theo Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội, Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế, Điều 43 Luật việc làm thì Người lao động trong thời gian thử việc không thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế; Bảo hiểm thất nghiệp.
Nhưng theo Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian thử việc được tính là thời gian làm việc thực tế của người lao động tại Công ty để tính chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật lao động năm 2019. Vì vậy, nếu người lao động đáp ứng đủ điều kiện đã làm việc thường xuyên cho người lao động từ 12 tháng trở lên, thì thời gian thử việc người lao động sẽ được hưởng ¼ tháng lương. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
Thực tiễn thì rất nhiều người lao động và Công ty không biết quy định này để chi trả và hưởng trợ cấp thôi việc. Một số công ty đặt câu hỏi rằng có cách nào để đóng các chế độ bảo hiểm nêu trên để Công ty không phải chi trả ¼ tháng lương (thường lớn hơn chi phí Công ty đóng các chế độ bảo hiểm cho người lao động)?
Nhiều Công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh đã vận dụng quy định tại Mục II.1.1 của Quyết định 2777/ QĐ-BHXH của Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2015. Điều khoản này quy định “Người lao động có thời gian thử việc ghi trong hợp đồng lao động mà hợp đồng đó thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN thì đơn vị và người lao động phải đóng BHXH, BHYT, BHTN cho cả thời gian thử việc.
Đặc biệt hơn, đối với trợ cấp mất việc làm, khi người lao động đảm bảo đủ các điều kiện về hưởng trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động năm 2019 thì thời gian thử việc cũng được tính là thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động. Theo đó, mức trợ cấp của người lao động được tính cho 02 tháng thử việc tương đương bằng ½ tháng tiền lương bình quân 06 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là mức hưởng này chịu sự ràng buộc bởi khoản 1 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2019. Mức hưởng này ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. Do đó, chỉ cần người lao động có thử việc từ đủ 01 tháng trở lên khi trả trợ cấp mất việc làm công ty phải trả ít nhất 02 tháng tiền lương. Điều này là hết sức bất lợi cho công ty nếu công ty không chú ý.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê