NỘI DUNG TƯ VẤN:

Lịch sử ra đời và phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa gắn kiền với sự ra đời và phát triển của tiền tệ và hệ thống lưu thông tiền tệ. Kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động mua bán, lưu thông hàng hóa – tiền tệ trở nên phổ biến và lớn mạnh, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt bộc lộ nhiều hạn chế đòi hỏi phải có một tổ chức trung gian giúp cho việc thanh toán trở nên nhanh chóng, dễ dàng và thuận lợi hơn. Thanh toán qua trung gian là việc chi trả không tiến hành trực tiếp giữa người chi trả với người thụ hưởng mà thông qua việc ủy nhiệm cho các tổ chức trung gian thực hiện. Để hiểu rõ một số vấn đề còn tồn tại của hoạt động này bạn khảo nội dung phía dưới đây:

1. Một số vướng mắc pháp lý về chứng từ thanh toán:

Những vướng mắc pháp lí trong 9 tháng đầu năm 2013 về chứng từ thanh toán trong hoạt động thanh toán qua ngân hàng có các vấn đề sau:

Một là, một số quy định pháp luật chưa đủ thông thoáng, chưa tạo điều kiện tốt nhất cho việc tiếp cận các phương thức thanh toán hiện đại cho đầu tư, kinh doanh. Một trong những điều kiện tiên quyết đối với các hoạt động đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp là cần phải có các nguồn lực, nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng có đủ các nguồn lực cho các ý tưởng đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là các nguồn lực về đất đai, về vốn và các dịch vụ liên quan khác. Hệ thống pháp luật của chúng ta về vấn đề này về cơ bản đã có nhưng chưa đủ hoặc còn nhiều bất hợp lý, gây khó khăn cho việc tiếp cận các nguồn lực này của doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật về ngân hàng , tín dụng thư là một văn bản cam kết có điều kiện được Ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó Ngân hàng thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng) , tuy nhiên trên thực tế các điều kiện này không hề đơn giản.Ví dụ :Điều 16 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP quy định về quy trình, thủ tục, hồ sơ cấp, thu hồi và cấp lại Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Hai là, một số quy định pháp luật thiếu minh bạch, chưa đầy đủ, thống nhất. Ngoài những hạn chế, bất cập về nội dung chính sách, dẫn đến những hạn chế trong việc thực thi các mục tiêu của chính sách, pháp luật về chứng từ thanh toán trong hoạt động thanh toán qua ngân hang, ở khía cạnh kỹ thuật, nhiều quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động này hiện còn chưa thực sự đầy đủ, thiếu tính đồng bộ, nhất quán trong chính sách, không minh bạch, thậm chí tạo nên những chồng chéo, mâu thuẫn. Sự không minh bạch, rõ ràng trong các quy phạm pháp luật, hoặc sự tồn tại các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, dẫn đến những cách hiểu khác nhau và tạo ra sự tuỳ tiện trong các cách xử lý, nguy cơ áp dụng pháp luật không thống nhất hoặc không rõ hướng giải quyết, gây nhiều khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp, làm giảm khả năng tiên liệu và có thể làm phát sinh những tranh chấp không đáng có. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp quyền lợi của doanh nghiệp không được bảo đảm do không xác định được cách xử lý hợp pháp, và vì bảo vệ lợi ích chính đáng, đôi khi doanh nghiệp phải chấp nhận thỏa hiệp hoặc tiêu cực.

Ba là, một số quy định pháp luật chưa phù hợp với thực tế, không hợp lý hoặc thiếu tính khả thi. Tình trạng luật khung, luật nguyên tắc còn nhiều, văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành còn chậm hoặc không đầy đủ, cuộc sống chưa đi vào luật nhiều, dẫn đến tình trạng luật chậm hoặc không thể đi vào cuộc sống.Điều này có thể lí giải bởi Việt Nam mới trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (tháng 11 năm 2006) nên vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động mới mẻ này.

Bốn là, một số quy định pháp luật còn phân biệt đối xử, chưa bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các tổ chức và cá nhân trong đầu tư. Trong các quy định hiện hành vẫn còn các quy định phân biệt đối xử, chưa bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp dân doanh trong việc tiếp cận các nguồn lực về tín dụng,cơ hội đầu tư, thông tin, nguồn nhân lực như nói trên, hoặc trong đấu thầu thực hiện dự án, cung cấp dịch vụ. Hoặc những phân biệt về chính sách giữa các tổ chức, cá nhân trong nước với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Năm là, khung pháp lý còn thiếu tính nhất quán, đồng bộ và sự ổn định về cơ chế, chính sách. Điều này thể hiện ở việc các quy định được ban hành thường có tuổi thọ ngắn (trung bình từ 3-5 năm), thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung nên thiếu sự ổn định, nhất quán của cơ chế, chính sách. Ví dụ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì sau đó là Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng.

Sáu là, sự cạnh tranh ngày càng nhiều:sự cạnh tranh của ngân hàng 100%vốn nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO. Đồng nghĩa với việc khả năng cạnh tranh của các ngân hàng với nhau ngày càng cao,vì thế dịch vụ thanh toán của ngân hàng nội địa phải có nhiều ưu điểm nhất định mới thu hút được khách hàng.

Bảy là, sự hiểu biết của khách hàng còn kém:Trình độ hiểu biết nghiệp vụ cũng như quy trình thanh toán của khách hàng còn nhiều hạn chế.

Tám là, hệ thống công nghệ ngân hàng còn chưa phát triển mạnh. Có những ngân hàng với hệ thống máy tính chưa được bảo vệ chắc chắn, gây thất lạc thông tin của khách hàng, thanh toán còn chậm.

2. Đề xuất một số hướng giải quyết

2.1. Không ngừng hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

Đầu tư trang thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ ngân hàng để thực hiện thanh toán nhanh chóng, chính xác và an toàn.

Ngân hàng nhà nước nên có kế hoạch và biện pháp tiếp nhận các nguồn vốn viện trợ từ nước ngoài, đặc biệt là của WB và sử dụng hợp lí ,có hiệu quả phục vụ công cuộc đổi mới công nghệ ngân hàng. So với ngân hàng nước ngoài thì ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn rất thấp do vậy nếu không có nguồn tài trợ giúp đỡ từ bên ngoài thì rất khó có thể cạnh tranh, đứng vững và phát triển được.

2.2. Đối với các hình thức thanh toán

Đối với hình thức thanh toán séc:

Quy định một số mức thấu chi với một số đơn vị sử dụng séc . Đối với khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì ngân hàng nên cho phép thấu chi qua séc chuyển khoản. Thấu chi không phải với mục đích tín dụng mà để bù đắp thiếu hụt tạm thời trong việc chi trả trên tài khoản tiền gửi.

Phạm vi thanh toán séc còn hạn chế, trong điều kiện hiện nay, mối quan hệ kinh tế không còn giới hạn trong từng vùng, từng địa phương mà đã phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trong nước và quốc tế. Do đó cần hiện đại hóa công nghệ và nối mạng thanh toán trong toàn ngành, phát triển chương trình thanh toán liên ngân hàng, hội nhập tất cả các tổ chức tín dụng vào một hệ thống thanh toán thống nhất với sự hỗ trợ của máy tính và phần mềm ứng dụng (Ngân hàng nhà nước làm trung tâm thanh toán bù trừ ).

Cần tiến tới thành lập trung tâm xử lí séc toàn quốc và trung tâm bù trừ khu vực hay toàn quốc để các ngân hàng tham gia thanh toán séc và thanh toán bù trừ được nhanh chóng , thuận tiện.

Đối với hình thức thanh toán bằng ủy nhiệm chi:

Trong cơ chế thị trường hiện nay, khách hàng của các ngân hàng chủ yếu là doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như cá nhân có nhu cầu về vốn cao. Việc cho khách hàng vay trong thanh toán vừa tháo gỡ khó khăn về tài chính cho khách hàng. đảm bảo cho đơn vị thụ hưởng thu được tiền, vừa thực hiện được nhiệm vụ kinh doanh của ngân hàng lại dữ được quan hệ tốt với khách hàng. Như vậy, ủy nhiệm chi quá số dư thì ngân hàng nên cho vay để đảm bảo khả năng thanh toán. Để làm tốt điều đó thì phải phân loại ngân hàng.

Đối với hình thức thanh toán ủy nhiệm thu:

Khi khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng một cách phổ biến thì nhà nước nên quy định các ngành thu các loại dịch vụ như: bưu điện, điện, nước, thuế …Sử dụng hình thức thanh toán ủy nhiệm chi. Chắc chắn khách hàng ưa chuộng hình thức này vì họ đỡ mất thời gian đi lại, muốn vậy đòi hỏi bảng kê thanh toán tiền dịch vụ của các ngành bưu điện, điện lực…phải chính xác. Khi doanh số thanh toán bằng ủy nhiệm thu tăng nhanh tức là khối lượng công việc mà ngân hàng làm dịch vụ gia tăng thì ngân hàng cũng cần xem xét thu phí thanh toán theo tỉ lệ phần trăm nhất định cho hợp lí.

Đối với hình thức thanh toán thư tín dụng:

Ngân hàng nhà nước nên xem xét, sửa đổi các văn bản cũ, bổ sung các văn bản mới cho phù hợp với thông lệ quốc tế về hình thức thanh toán bằng thư tín dụng. Muốn vậy thì: Nên xóa bỏ bức tường ngăn cách giữa các ngân hàng cùng hệ thống và khác hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quan hệ giao dịch và thanh toán; Nên đưa ra các tỉ lệ kí quỹ khác nhau đối với từng đối tượng khách hàng như kí quỹ 100%, 50% hay 20% với khách hàng là doanh nghiệp lớn có doanh số lưu chuyển trên tài khoản thường xuyên.

3. Kết luận:

Tóm lại, chứng từ thanh toán là cơ sở để thực hiện giao dịch thanh toán. Chứng từ thanh toán có thể được lập dưới hình thức chứng từ giấy, chứng từ điện tử hoặc hình thức khác. Như vậy, có thể thấy rằng, chứng từ thanh toán có một địa vị pháp lý hết sức quan trọng, các hoạt động thanh toán qua ngân hàng nói riêng và qua trung gian nói chung sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu chúng, chứng từ thanh toán là cơ sở để đảm bảo cho hoạt động thanh toán qua ngân hàng được đi vào quỹ đạo.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê