Mục lục bài viết
- 1. Những yếu tố tác động đến việc góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên
- 1.1 Một là, các quy định của pháp luật
- 1.2 Hai là, điều lệ công ty
- 1.3 Ba là, cơ chế phân chia lợi nhuận trong công ty
- 1.4 Bốn là, trình độ, năng lực lãnh đạo và đạo đức của thành viên công ty
- 2. Thành viên công ty TNHH Hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng phần vốn góp
- 2.1 Về trình tự, thủ tục
- 2.2 Hệ quả của việc chuyển nhượng vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
1. Những yếu tố tác động đến việc góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên. Cụ thể:
1.1 Một là, các quy định của pháp luật
Quy định của pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động cho việc góp vốn. Chất lượng của pháp luật thể hiện ở sự phù hợp với hoạt động của công ty TNHH hai thành viên trở lên,không tạo nên sự khác biệt trong nhận thức nội dung, không đem lại khả năng xung đột pháp luật và những hệ lụy pháp lý phức tạp.
Pháp luật điều chỉnh việc góp vốn cho công ty TNHH hai thành viên trở lên: Chủ thể góp vốn: Mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền góp vốn vào doanh nghiệp trừ các trường hợp bị cấm. Tài sản góp vốn: Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.
Định giá tài sản góp vốn: Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam. Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được định giá bởi thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp thẩm định giá và được thể hiện bằng Đồng Việt Nam.
Thời hạn góp vốn: Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thành viên công ty chỉ được góp vốn phần vốn góp cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của đa số thành viên còn lại. Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp
Điều chỉnh vốn góp: Phải chào bán cho các thành viên khác của công ty trong cùng điều kiện và theo tỷ lệ phần vốn gópNếu kể từ ngày chào bán 30 ngày mà không có ai mua hoặc không mua hết thì thành viên có thể chuyển nhượng cho cá nhân, tổ chức không phải là thành viên.
Các hành vi bị cấm liên quan đến góp vốn: Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị.
1.2 Hai là, điều lệ công ty
Trong các văn kiện cấu thành công ty thì bản điều lệ đóng vai trò rất quan trọng khi công ty hoạt động nói chung và hoạt động góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng. Điều lệ công ty được coi là một trong những “cốt lõi” làm nên sự thành công của công ty và được hình thành trên nền tảng của sự đồng thuận của các thành viên trong công ty. Thực tế cho thấy, do còn chưa có sự minh bạch, rõ ràng trong hệ thống pháp luật vì vậy các vấn đề về tổ chức, điều hành, quyền và nghĩa vụ của các thành viên... càng cần quy định cụ thể trong điều lệ công ty. Theo quy định, điều lệ công ty không được trái với các quy định của pháp luật, nhưng điều đó không có nghĩa với việc điều lệ công ty chỉ là một bản sao chép những điều luật. Điều lệ công ty quy định rõ quy chế tổ chức, quản lý công ty, thể hiện sự đồng thuận của các thành viên và bắt buộc phải các thành viên trong công ty phải thi hành. Do đó, điều lệ công ty tốt cũng là tác động đến việc góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên.
1.3 Ba là, cơ chế phân chia lợi nhuận trong công ty
Cơ cấu tổ chức, điều hành, cơ chế quản lý công ty TNHH hai thành viên dựa trên nền tảng mà ở đó chịu sự chi phối của những yếu tố khác nhau. Trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty TNHH có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các thành viên góp vốn. Sự phân lợi nhuận phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của thành viên. Việcthiết lập cơ chế phân chia lợi nhuận được ghi nhận phụ thuộc vào tỷ lệ chiếm hữu vốn trong công ty nhiều hay ít. Việc phân chi lợi nhuận dựa trên phần vốn góp góp phần tạo động lực cho người góp vốn và nó còn góp phần thể hiện tính chuyên nghiệp và bền vững trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.
1.4 Bốn là, trình độ, năng lực lãnh đạo và đạo đức của thành viên công ty
Trình độ, năng lực của các thành viên góp vốn góp phần rất lớn trong tổ chức, điều hành công ty TNHH hai thành viên trở lên. Sự hướng tới chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa là hết sức cần thiết góp phần tác động đến việc tham gia góp vốn của các thành viên.
Pháp luật quy định chặt chẽ liên quan đến việc góp vốn là do Công ty TNHH hai thành viên thuộc loại hình công ty chịu chế độ trách nhiệm hữu hạn về tài sản. Nghĩa là công ty chịu chế độ trách nhiệm về tài sản trong phạm vi số vốn điều lệ, thành viên góp vốn chịu chế độ trách nhiệm tài sản trong phạm vi số vốn góp. Do vậy, cần quy định chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể tham gia góp vốn để tránh các hệ lụy về chế độ trách nhiệm về tài sản liên quan đến các chủ thể khác trong quá trình kinh doanh nên pháp luật về chế độ góp vốn vào công ty TNHH hai thành viên quy định chặt chẽ như vậy.
2. Thành viên công ty TNHH Hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng phần vốn góp
Tại Điều 52 Luật doanh nghiệp 2020 có quy định cụ thể như sau:
"Điều 52. Chuyển nhượng phần vốn góp1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 51, khoản 6 và khoản 7 Điều 53 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:a) Chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện chào bán;b) Chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán.2. Thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua quy định tại các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên.3. Trường hợp chuyển nhượng hoặc thay đổi phần vốn góp của các thành viên dẫn đến chỉ còn một thành viên công ty thì công ty phải tổ chức quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoàn thành việc chuyển nhượng."
Theo đó, để trở thành thành viên của công trách TNHH Hai thành viên thì một chủ thể cần sở hữu một phần vốn điều lệ của công ty. Khi trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn thi chủ thể đó rất nhiều quyền và nghĩa vụ được pháp luật và điều lệ công ty quy định. Một trong số đó là quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn.
Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH Hai thành viên trở lên được hiểu là thành viên hoặc chủ sở hừu chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn góp của mình cho thành viên hay cá nhân, tổ chức khác không phải là thành viên của công ty. Chuyển nhượng có thể có các hình thức như: bán, tặng cho, để lại thừa kế...
2.1 Về trình tự, thủ tục
Về nguyên tắc thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn thành viên cần phải tiến hành thủ tục chặt chẽ như sau:
- Phải chào bán cho các thành viên khác của công ty trong cùng điều kiện và theo tỷ lệ phần vốn góp
- Nếu kể từ ngày chào bán 30 ngày mà không có ai mua hoặc không mua hết thì thành viên có thể chuyển nhượng cho cá nhân, tổ chức không phải là thành viên.
Nếu so sánh với sự chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn với công ty cổ phần thì ta thấy trong công ty trách nhiệm hữu hạn hạn chế chuyển nhượng vốn cho người không phải là thành viên. Còn trong công ty cổ phần thì tính chất chuyển nhượng cổ phần mang tính tự do linh hoạt hơn. Công ty TNHH Hai thành viên trở lên mang tính “đóng”. Quy định này bảo đảm tính cân bằng về lợi ích, về nguyên tắc, phần vốn góp đó phải được chào bán theo tỷ lệ tương ứng cho những thành viên còn lại.
Ngoài ra, pháp luật cũng rất linh hoạt, mềm dẻo khi quy định hai trường hợp ngoại lệ mà thành viên không cần chào bán cho các thành viên còn lại của công ty mà có thể tự do chuyển nhượng đó là:
- Trường hợp mà thành viên có quyền yêu eầu công ty mua lại (Điều 51 Luật Doanh nghiệp năm 2020) mà công ty không mua lại trong thời hạn 15 ngày từ ngày có yêu cầu thì thành viên có quyền chuyển nhượng vốn tự do;
- Trường hợp thành viên thực hiện việc trả nợ bằng vốn góp.
Về thời điểm chuyển nhượng vốn góp thành công
Kể từ khi các thông tin của người mua (gồm: họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với thành viên là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đoi với thành viên là tổ chức; phần vốn góp, tỷ lệ phần vốn góp đã góp, thời điểm góp vốn, loại tài sản góp vốn, số lượng, giá trị của từng loại tài sản góp vốn của từng thành viên; số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp của từng thành viên) được ghi vào sổ đãng ký thành viên thì người chuyển nhượng mới chấm dứt quyền và nghĩa vụ với công ty tương ứng với số vốn góp.
2.2 Hệ quả của việc chuyển nhượng vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
- Vốn điều lệ của công ty không thay đổi, công ty tiến hành thay đổi/bổ sung thành viên
- Trường hợp việc chuyển nhượng dẫn tới chỉ còn một thành viên thì trong 15 ngày hoàn thành chuyển nhượng công ty phải thay đổi loại hình doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh.
- Trường hợp có tiếp nhận thành viên mới trong công ty TNHH Hai thành viên trở lên cần tiến hành thủ tục đăng ký thay đổi thành viên.
- Trường hợp cá nhân chuyển nhượng phần vốn góp thì cân chú ý đến việc đóng thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về thuế.