Khái niệm nợ khoản vay được thế chấp hay nghĩa vụ thế chấp
Nợ khoản vay được thế chấp hay còn gọi là nghĩa vụ thế chấp (CLO) là chứng khoán đa cấp giống như nghĩa vụ nợ được thế chấp ngoại trừ các tài sản bảo đảm nợ là khoản vay ngân hàng thương mại. Bằng việc phát hành nợ khoản vay được thế chấp, các ngân hàng có thể giảm các yêu cầu về vốn điều lệ của họ, và giảm rủi ro liên quan với cho vay thương mại.
Nghĩa vụ cho vay thế chấp, tiếng Anh gọi là collateralized loan obligation, viết tất là CLO.
Nghĩa vụ cho vay thế chấp (CLO) là một chứng khoán được đảm bảo bằng một rổ các khoản nợ. Các khoản nợ này thường là các khoản vay doanh nghiệp có chất lượng tín dụng thấp hay khoản vay đòn bẩy mà một công ty tư nhân sử dụng để mua lại một công ty khác.
CLO cũng tương tự như nghĩa vụ nợ cầm cố thế chấp (CMO), chỉ khác nhau ở loại hình khoản nợ được dùng để đảm bảo. Một bên là nợ vay doanh nghiệp còn một bên là nợ vay cầm cố tài sản.
Với CLO, nhà đầu tư sẽ được nhận các khoản thanh toán theo kì của các khoản nợ được dùng để đảm bảo và phải chấp nhận cả rủi ro vỡ nợ từ chúng. Nhưng để bù đắp cho rủi ro vỡ nợ này thì nhà đầu tư sẽ có được một danh mục đa dạng hơn và một khoản lợi nhuận tiềm năng cao hơn trung bình.
Hiểu rõ hơn về Nghĩa vụ cho vay thế chấp
Những khoản vay có xếp hạng tín dụng thấp sẽ được bán cho một nhà quản lí Nghĩa vụ cho vay thế chấp. Nhà quản lí này sẽ gom nhiều khoản vay lại (thường là từ 100 đến 225) thành một rổ thống nhất để tiến hành mua bán nợ.
Để huy động tiền nhằm có thể tiếp tục mua các khoản nợ khác, nhà quản lí sẽ bán Nghĩa vụ cho vay thế chấp cho nhà đầu tư theo một cấu trúc được gọi là phân ngạch (tranche). Mỗi phân ngạch sẽ đại diện cho một phần của Nghĩa vụ cho vay thế chấp và nó sẽ quyết định xem ai là người đầu tiên được chi trả khi mà các khoản nợ thế chấp được thanh toán.
Và vì vậy nó cũng quyết định mức độ rủi ro của khoản đầu tư do nhà đầu tư nào được chi trả cuối cùng sẽ chịu nhiều rủi ro vỡ nợ nhất. Nhưng nhà đầu tư được chi trả đầu tiên do chấp nhận mức độ rủi ro thấp nên cũng sẽ nhận được lợi suất thấp hơn. Còn những nhà đầu tư được trả sau hay trả cuối thì sẽ nhận được lợi suất cao hơn để bù đắp cho rủi ro mà họ phải chịu.
Nghĩa vụ cho vay thế chấp là một công cụ được quản lí chủ động. Người quản lí có thể thực hiện mua bán các khoản nợ trong rổ thế chấp bất kì lúc nào để kiếm lợi nhuận hay tối thiểu hóa rủi ro. Và thường thì các khoản nợ vay nằm trong Nghĩa vụ cho vay thế chấp được đảm bảo bằng những tài sản có giá trị cao nên việc bán tống cũng ít xảy ra giúp nó có khả năng chống chịu sự dao động của thị trường tốt hơn.
Khái niệm Chứng khoán hóa là gì?
Chứng khoán hóa (Securitization) là nghiệp vụ phát hành những công cụ tài chính (financial instruments) mới bằng cách kết hợp các tài sản tài chính khác lại với nhau (“đóng gói” chúng lại rồi chia nhỏ ra), sau đó bán những sản phẩm này cho các nhà đầu tư. Quá trình có thể bao gồm bất cứ loại tài sản tài chính và thúc đẩy tính thanh khoản trên thị trường.
Các sản phẩm chứng khoán hóa là gì?
– Trái phiếu được chứng khoán hóa từ các khoản vay thế chấp bất động sản (Mortgage backed securities – MBS): là loại chứng khoán được tạo ra từ việc tập hợp (“đóng gói”) các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản thế chấp lại (thông thường là bất động sản) hình thành nên một khoản nợ với giá trị lớn (a pool of mortgages) và chia nhỏ khoản nợ này thành những phần nhỏ bằng nhau (shares or participation certificates in pool).
– Trái phiếu được chứng khoán hóa từ các khoản vay tài sản (Asset-Backed Securities – ABS): là loại chứng khoán được đảm bảo bởi giá trị của một số lượng các khoản vay hay các khoản phải thu gộp lại (a pool of loans or receivables). Đây là một công cụ có thu nhập cố định và nguồn thu cũng dựa trên nguồn thu dự kiến từ tài sản cơ sở (các khoản vay hay các khoản phải thu đó)
– Trái phiếu được chứng khoán hóa từ các nghĩa vụ nợ có đảm bảo (CDOs): là một sản phẩm có lợi suất cố định, là một phần của thị trường giao dịch các chứng khoán đảm bảo bằng các tài sản.
Nếu hàng hóa cơ sở của các trái phiếu CDOs bao gồm các loại trái phiếu (trái phiếu công ty, trái phiếu ở thị trường mới nổi) thì trái phiếu CDOs còn được gọi theo thuật ngữ tiếng Anh là collateralized bond obligation (CBO). Khi hàng hóa cơ sở của trái phiếu CDOs gồm các khoản vay ngân hàng trái phiếu CDOs được gọi theo thuật ngữ tiếng Anh là collateralized loan obligation (CLO).
Lợi ích và rủi ro của chứng khoán hóa
Lợi ích của chứng khoán hóa là gì?
+ Chứng khoán hóa giúp cho dòng vốn được luân chuyển liên tục, giúp cung ứng vốn kịp thời cho các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là những chủ sở hữu ban đầu của các tài sản cơ sở (các khoản vay).
Theo đó, thông qua việc chứng khoán hóa các khoản cho vay có cùng tính chất, lãi suất và thời hạn của các ngân hàng thương mại giúp cho đồng vốn trên thị trường được lưu thông nhanh hơn không phụ thuộc vào những khoản cho vay hiện thời. Đồng thời chính công cụ này cũng sẽ thu hút, khai thác mọi nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong nền kinh tế, tránh tình trạng vốn nằm bất động, tạo khả năng sinh lợi cao, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
+ Chứng khoán hóa giúp những người cho vay có thể thu hồi được vốn sớm hơn, nên giúp họ giảm thiểu chi phí, tăng khả năng sinh lời trong tương lai khi sớm tái đầu tư. Mặt khác, nhà đầu tư sở hữu công cụ chứng khoán hóa được hưởng cả lãi và gốc chia đều định kì hàng tháng nên thu hồi vốn nhanh hơn so với việc sở hữu trái phiếu coupon chẳng hạn thì định kì 6 tháng hoặc 1 năm chỉ được hưởng phần lãi phát sinh, đến kì trả lãi cuối mới được nhận phần lãi kì cuối và nợ gốc.
+ Chứng khoán hóa tạo thêm nhiều loại chứng khoán mới cung ứng cho thị trường tài chính, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư, làm tăng tính thanh khoản cho thị trường tài chính, giúp các chủ thể phát hành các khoản nợ có cơ hội huy động những nguồn vốn mới.
+ Quá trình thực hiện chứng khoán hóa chính là quá trình hoán chuyển và chia sẻ rủi ro mà theo đó, rủi ro ban đầu của chủ thể cho vay này sẽ được phân tán cho các chủ thể tham gia trong quá trình chứng khoán hóa. Do đó, chứng khoán hóa giúp giảm thiểu rủi ro các khoản nợ, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng.
+ Với người sở hữu các công cụ chứng khoán hóa này, rủi ro thanh toán cũng được giảm thiểu do có sự tham gia của người quản lí các khoản nợ (the asset manager), chủ thể đặc biệt và tổ chức xếp hạng tín nhiệm (rating agencies) tư vấn tái cấu trúc các dòng tiền và có thể nâng cao mức xếp hạng tín nhiệm của các công cụ chứng khoán hóa này so với mức xếp hạng cũ của các khoản nợ gốc.
+ Vì các chủ sở hữu ban đầu của những khoản nợ đã sớm “bán” các khoản nợ này cho chủ thể đặc biệt làm cho thông tin thể hiện trên báo cáo tài chính của họ cũng tốt hơn, đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe về hệ số nợ, hệ số an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh.
Rủi ro của chứng khoán hóa là gì?
– Với các khoản nợ được thanh toán lãi và gốc định kì hàng tháng, người đi vay vẫn có quyền được trả trước một phần nợ gốc hoặc toàn bộ nợ gốc; do đó, thời hạn của các khoản nợ bị rút ngắn lại, làm cho lãi tính trên dư nợ của tháng tiếp theo có thể thấp hơn dẫn đến rủi ro trả trước (prepayment risk) đối với người sở hữu khoản nợ đó, tạo ra tính không chắc chắn của dòng thu nhập trong tương lai.
– Vì khoản nợ được chuyển hóa qua nhiều công đoạn, có thể dẫn đến sự vỡ nợ dây chuyền của những chủ thể có liên quan nếu như người đi vay không thanh toán được các khoản nợ gốc và lãi định kì.
CMO
Nghĩa vụ thế chấp có thế chấp (CMO ) là một loại bảo đảm nợ phức tạp đóng gói lại và chỉ đạo thanh toán gốc và lãi từ một nhóm tài sản thế chấp cho các loại chứng khoán và kỳ hạn khác nhau, do đó đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư.
CMO lần đầu tiên được thành lập vào năm 1983 bởi ngân hàng đầu tư Salomon Brothers và First Boston cho nhà cung cấp thanh khoản thế chấp của Hoa Kỳ Freddie Mac . Đội Salomon Brothers được dẫn dắt bởi Lewis Ranieri và đội First Boston của Laurence D. Fink , mặc dù sau đó cũng nhận được giải thưởng trong ngành cho đóng góp của mình).
Về mặt pháp lý, CMO là một chứng khoán nợ được phát hành bởi một đơn vị trừu tượng — một thực thể có mục đích đặc biệt —và không phải là khoản nợ do tổ chức tạo ra và điều hành thực thể đó. Thực thể là chủ sở hữu hợp pháp của một tập hợp các khoản thế chấp, được gọi là một hồ bơi. Các nhà đầu tư trong CMO mua trái phiếu do tổ chức phát hành và họ nhận được các khoản thanh toán từ thu nhập tạo ra từ các khoản thế chấp theo một bộ quy tắc xác định. Về thuật ngữ, bản thân các khoản thế chấp được gọi là tài sản thế chấp , 'loại' đề cập đến các nhóm thế chấp được cấp cho những người đi vay có mức độ tín dụng gần như tương tự, đợt được chỉ định Các phần nhỏ hoặc phần nhỏ, nói một cách ẩn dụ, về một nhóm các khoản thế chấp và thu nhập mà chúng tạo ra được kết hợp thành một chứng khoán riêng lẻ, trong khi cấu trúc là tập hợp các quy tắc quy định cách phân phối thu nhập nhận được từ tài sản thế chấp. Pháp nhân, tài sản thế chấp và cấu trúc được gọi chung là thỏa thuận. Không giống như chứng khoán chuyển khoản thế chấp truyền thống, CMO có các luồng thanh toán và rủi ro khác nhau, tùy thuộc vào sở thích của nhà đầu tư. Vì mục đích thuế, các CMO thường được cấu trúc dưới dạng Các Điều khoản Đầu tư Thế chấp Bất động sản, tránh khả năng bị "đánh thuế hai lần".
Các nhà đầu tư vào CMO bao gồm ngân hàng , quỹ đầu cơ , công ty bảo hiểm , quỹ hưu trí , quỹ tương hỗ , cơ quan chính phủ và gần đây nhất là ngân hàng trung ương . Bài viết này chủ yếu tập trung vào trái phiếu CMO được giao dịch ở Hoa Kỳ .
Thuật ngữ "nghĩa vụ thế chấp có thế chấp" về mặt kỹ thuật đề cập đến một chứng khoán được phát hành bởi một loại pháp nhân cụ thể kinh doanh nhà ở thế chấp, nhưng các nhà đầu tư cũng thường đề cập đến các giao dịch được kết hợp với nhau bằng cách sử dụng các loại pháp nhân khác như các đường dẫn đầu tư thế chấp bất động sản làm CMO.Wikipedia site:vi2.wiki