1. Nợ ngân hàng quá hạn có bị phạt tù không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: mẹ em có vay 1 khoản nợ 60 triệu đồng từ ngân hàng A . Thời hạn trả nợ là 30 tháng , tính luôn gốc và lãi là hơn 100 triệu . Mẹ em đang bệnh, công việc không ổn định nên đã k đóng 2 tháng nay . Ngân hàng gọi điện nhiều lần nhưng mẹ em không bắt máy. Sau đó , thì gửi thông báo là đã khời kiện lên Tòa án nhân dân ( TAND ) về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" nhưng mẹ em vẫn không lên.
Nay ngân hàng lại gửi thông báo đã khởi kiện về tội lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản , gây hậu quả nghiêm trọng" theo bộ luật hình sự và mời lên tand làm việc, nếu không công an địa phương sẽ bắt tạm giam. Vậy em phải làm thế nào ?
Nhờ các luật sư tư vấn giúp em. E xin cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Chào bạn , với trường hợp của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau :

Mức lãi suất ngân hàng đang áp dụng trong phạm vi pháp luật cho phép :

Theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 :

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Theo quy định tại điều 201 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 có hiệu lực vào ngày 1/1/2018 :

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Vậy , như bạn trao đổi chúng tôi xác định mức lãi suất mà ngân hàng áp dụng cho mẹ bạn là 22.22 % trên năm nên ngân hàng chưa phạm vào tội cho vay lãi nặng nhưng khi khởi kiện , tòa án chỉ bảo vệ cho họ mức lãi suất tối đa là 20 % / năm

Mẹ bạn có phạm vào tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản :

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá [...]

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

Gia đình bạn đang gặp khó khăn và chưa có khả năng về tài chính để trả nợ , nhưng bạn không thông báo hay chứng minh điều này với ngân hàng , khi bên cho vay gọi mẹ bạn lại có hành vi trốn tránh , không nghe điện thoại để xin gia hạn nợ vì vậy ngân hàng không thể biết được hoàn cảnh của gia đình mình . Theo lời khuyên của chúng tôi bạn nên chủ động liên hệ với ngân hàng để được gia hạn nợ .

Mặt khác, giấy mời lên tòa án giải quyết vụ án hoặc việc dân sự phải do tòa án gửi và có dấu của tòa , về thẩm quyền điều tra bước đầu vụ án hình sự thuộc về cơ quan điều tra tức công an chứ không thuộc về tòa án nên giấy mờ này bạn có quyền không chấp hành .

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Có được miễn giảm lãi của ngân hàng khi bị ảnh hưởng của dịch covid 19 ? Mức lãi suất cho vay ?

2. Rút tiền thẻ atm của người vay tiền có phạm tội không ?

Em xin chào luật sư ạ, xin Luật sư cho em hỏi vấn đề của em ạ: Vào ngày 25/12/2015 em có chuyển khoản tiền atm cho bạn em( là người yêu cũ) vay 10 triệu để chạy việc. Cô ấy bảo sẽ trả nếu không chạy việc nữa. Sau đó cô ấy không chạy việc nữa có hỏi em tài khoản atm để trả nhưng lại không trả. Em đòi rất nhiều lần và còn nói chỉ cần lấy lại 5 triệu cho 5 triệu nhưng cô ấy vẫn không trả. Sau đó cô ấy chủ động nhắn tin bảo sẽ chỉ trả 3 triệu thì xong em đồng ý nhưng sau đó cô ấy lại thay đổi quyết định không trả và để tiền mua xe. Rất nhiều lần đòi nhưng không được hôm trước em sang phòng cô ấy chơi đòi tiền nhưng cô ấy không trả khi thấy thẻ atm của cô đấy em đã cầm.
Do trước đây yêu nhau thỉnh thoảng em vẫn rút tiền thẻ atm của cô ấy nên biết mật khẩu atm, em đã rút 7 triệu( trong thẻ có 9 triệu). Rút xong e nhắn tin báo với cô ấy là đã rút tiền trong atm để lấy lại tiền đã cho vay và bảo nếu đồng ý sẽ chỉ lấy lại 5 triệu còn cho 5 triệu nhưng cô ấy không đồng ý. Cô ấy đi báo công an.Em có giấy biên lai đã chuyển 10 triệu và tin nhắn cô ấy quyết không trả tiền để chứng minh tiền trong thẻ atm 9 triệu kia là của mình chuyển sang.
Vậy trường hợp của em có bị phạt dân sự hay phạt tù không ạ ?
Mong luật sư tư vấn giúp em vấn đề này ạ. Em xin cảm ơn ạ!

Rút tiền thẻ atm của người vay tiền khi không chịu trả số tiền đã mượn trước đó có phạm tội không?

Luật sư tư vấn luật hình sự về cưỡng đoạt tài sản gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất: Về vấn đề không trả nợ của bạn gái cũ của bạn.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn cho người yêu cũ vay số tiền 10 triệu đồng nhưng đến nay bạn gái đó không trả tiền bạn. Tuy nhiên, việc vay tiền này không được giao kết bằng hợp đồng. Nhưng hiện tại bạn vẫn giữ biên lai chuyển tiền 10 triệu đó, biên lai chuyển tiền gốc trong trường hợp này sẽ là chứng cứ để chứng minh việc bạn đã cho bạn gái kia vay số tiền 10 triệu đồng.

Do đó, trong trường hợp này bạn có thể khởi kiện ra tòa đến Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bạn gái bạn cư trú theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để yêu cầu giải quyết.

Thứ hai: Về việc bạn tự ý rút tiền từ thẻ ATM của bạn gái bạn.

Theo điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định như sau:

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:[...]

bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác theo điều 172 BLHS.

Trong trường hợp này bạn tự ý rút tiền trong ATM của người khác là vi phạm quy định của pháp luật.Tuy nhiên, theo như thông tin mà bạn cung cấp thì mục đích của bạn nhằm để gán nợ sang, chứ không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bạn gái bạn.

Như vậy, khi bạn bị khởi kiện ra Tòa bạn cần chứng minh việc rút tiền trên không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, mà mục đích chính là để trừ nợ vì bạn gái bạn không trả tiền.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cho vay lãi suất cao khi nào thì phạm luật ? Những chiêu thức lừa cho vay với lãi suất cắt cổ ?

3. Tư vấn giải quyết tranh chấp

và thủ tục khởi kiện đòi nợ ?

Thưa Luật sư! Năm 2011, Công ty A có ký hợp đồng mua bán vật liệu với công ty em để thi công xây dưng 1 tòa nhà (nhưng trong hợp đồng lại không ghi ngày tháng, đã có chữ ký của giám đốc 2 bên). Bên cạnh đó, công ty A cũng ký hợp đồng liên doanh với công ty B cùng xây dựng tòa nhà đó (Công ty B đã có hợp đồng mua bán vật liệu với công ty em từ trước).

Trong năm, công ty em có giao hàng và xuất hóa đơn cho công ty A (người nhận là người của công ty B). Tổng giá trị giao hàng là 1,7 tỷ. Công ty A có thanh toán bằng chuyển khoản cho công ty em 1 tỷ. Còn nợ 700 triệu, công ty em nhiều lần gửi đối chiếu công nợ và yêu cầu thanh toán xuống công ty A nhưng không thấy phản hồi cũng như gửi lại đối chiếu công nợ. Đến nay, bên công ty A thay đổi giám đốc và cử người đến yêu cầu làm rõ sự việc mua bán giữa hai bên. Và nói là công ty A chỉ nhận được số liệu hàng hóa là 1 tỷ còn 700 triệu thì không được nhận. Trong khi đó hóa đơn đã xuất từ năm 2011 với tổng số tiền hàng là 1.7 tỷ, đã lập báo cáo tài chính.

Vậy luật sư cho em hỏi trong trường hợp này, công ty em nên làm gì để giải quyết vấn đề tranh chấp giữa hai bên và đòi được số nợ trên?

Xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn giải quyết tranh chấp và thủ tục khởi kiện đòi nợ ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

Điều 50 Luật thương mại 2005 quy định:

Điều 50. Thanh toán

1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận.

2. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.

3. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.

Trong trường hợp công ty bạn có chứng cứ rõ ràng chứng minh được công ty A đang nợ của công ty bạn 700 triệu đồng và công ty A cố tình không trả số tiền đó, công ty bạn quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc công ty A phải thanh toán khoản nợ

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Vốn hóa chi phi lãi vay đầu tư thế nào ? Chính sách lãi suất theo quy định mới nhất hiện nay ?

4. Không trả nợ có bị kiện đòi tiền hay không ?

Thưa luật sư, em có vay của công ty tài chính 30 triệu, vay trả lãi suất là 1 triệu/tháng, trả trong vòng 6 tháng nhưng em mới trả lãi được 2 tháng thì bị thất nghiệp nên em đã dừng trả. Kể từ đó công ty tài chính này thường gọi điện đe dọa, buộc em phải trả toàn bộ số tiền đó theo đúng hợp đồng nếu không sẽ khởi kiện. Em phải làm thế nào bây giờ ?
Mong luật sư giúp đỡ. Em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

- Bộ luật dân sự năm 2015 quy định

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Như vậy, xét vào trường hợp của bạn, bạn vay tiền của Công ty tài chính mà đến hạn trả nhưng bạn không trả thì Công ty tài chính có quyền làm đơn khởi kiện ra tòa để yêu cầu bạn trả tiền.

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Theo quy định Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định như sau:

''1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột thì sẽ vi phạm pháp luật.

Như vậy, nếu bạn xét thấy rằng, Công ty tài chính cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột thì bạn có quyền làm đơn tố cáo Công ty tài chính.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Mức lãi vay 5 nghìn/1 triệu/1 ngày có vi phạm không ? Mức lãi suất cho vay tiền hợp pháp khi nào ?

5. Quy định về lãi suất đối với các khoản nợ ?

Luật Minh Khuê tư vấn thủ tục đòi nợ và việc lãi suất đối với các khoản nợ theo quy định của pháp luật hiện hành:

Trả lời:

Trong trường hợp bạn không hợp tác và có dấu hiệu bỏ trốn, bên cho vay sẽ kiện bạn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và bạn có thể sẽ chịu trách nhiệm hình sự tùy theo mức tiền mà bạn vay và các tình tiết khác.

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định, hướng dẫn tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

[...]

Nếu bạn không có hành vi bỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền trên, bạn hoàn toàn không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Giao dịch giữa bạn và bên cho vay chỉ đơn thuần là giao dịch dân sự, nếu bạn không thực hiện đúng theo hợp đồng đã ký kết trước đó, bên cho vay có quyền khởi kiện theo luật tố tụng dân sự để yêu cầu bạn hoàn trả lại cho họ số tiền còn nợ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng có được vượt quá 150 % không ? Thế nào là cho vay nặng lãi ?