Nhưng sau đó khách hàng lên công ty hủy hợp đồng nên công ty đề nghị tôi hoàn lại số tiền đó và công ty đã tự trừ 300 ngàn từ khoản tiền thưởng khác của tôi. Nên số tiền công ty yêu cầu cần hoàn lại là 6tr7. Khoảng 4 tháng đầu năm 2015 sau đó, tôi không bán được thêm hợp đồng nào nữa nên tháng 5 năm 2015 tôi buộc phải làm đơn xin thôi việc đại lý bảo hiểm và cũng không có khoản tiền nào để công ty trừ lại số tiền đã gửi tạm ứng hoa hồng cho tôi. Sau đó vì cuộc sống khó khăn tôi vẫn chưa lo nỗi để hoàn lại số tiến tạm ứng đã và cũng không làm ở một công ty bảo hiểm nào khác. Nay, tôi vừa nhận được thư đòi nợ từ một công ty được công ty bảo hiểm tôi đã làm, đòi nợ thay, yêu câu phải trả số tiền đó trước ngày 3/5/2016. Nếu không sẽ thực hiện các biện pháp... Thực sự tôi vẫn biết nợ là phải trả nhưng tôi chưa có khả năng,. giờ tôi phải lo cuộc sống của mình chưa ổn còn phải vướng vào khoảng nợ này.
Xin Luật sư cho tôi biết tôi có thể bị xử lý pháp luật như thể nào và có cách nào để tôi giãn thời gian hoàn lại số tiền đó. Cám ơn Luật sư !
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sựcủa công ty Luật Minh Khuê.
>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự gọi:1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội
- Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội
2. Nội dung phân tích:
Trường hợp này công ty bảo hiểm ứng trước cho bạn 7 triệu đồng thì có thể coi đây là hợp đồng mượn tài sản, cụ thể là tiền. Theo đó, bạn là bên mượn tài sản nên bạn có nghĩa vụ quy định tại Điều 514 Bộ luật dân sự:
"Điều 514. Nghĩa vụ của bên mượn tài sản
Bên mượn tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
1. Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn như tài sản của chính mình, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa;
2. Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn;
3. Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được;
4. Bồi thường thiệt hại, nếu làm hư hỏng, mất mát tài sản mượn."
Thì bạn phải trả lại tiền đúng thời hạn. Lúc này bạn có nghĩa vụ phải trả lại tiền cho công ty. Nhưng theo như bạn trình bày thì bạn có hoàn cảnh khó khăn, không thể trả ngay được, vậy bạn có thể thảo thuận xin gia hạn thời gian thực hiễn nghĩa vụ với công ty theo Điều 305 Bộ luật dân sự:
"Điều 305. Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự
1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại."
Trong trường hợp bạn không xin gia hạn và bạn cố tình không trả khoản tiền này thì bạn có trách nhiệm sau:
"Điều 304. Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc
1. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
2. Khi bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại."
Vậy lúc này bạn chỉ bị truy cứu trách nhiệm dân sự là phải trả lại khoản tiền, bạn chỉ bị truy cứ trách nhiệm hình sự nếu thuôc trường hợp quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự:
"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."
Vậy nếu bạn bỏ trốn hoặc dùng thủ đoạn gian dối thì bạn mới có thể xem xét chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Luật sư dân sự.