Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật việc làm năm 2013

Nghị định số 28/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp

2. Luật sư tư vấn:

Chào luật sư ! Em tên Lê thị diễm Ngọc. Em muốn hỏi: hiện em đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Hết năm 2016 em sẽ nghỉ làm và về quê sinh sống. Em muốn chuyển bảo hiểm thất nghiệp về quê. Vậy em có cần ra trung tâm việc làm để đăng ký chuyển bảo hiểm thất nghiệp về quê không? Hay em chỉ cần mang sổ bảo hiểm xã hội và giấy quyết định thôi việc rồi trưc tiếp đem về quê ( Quảng Trị) để đăng ký ? Em xin cảm ơn.
Kính chào luật sư! Em muốn hỏi khi em làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Khi nghỉ việc em muốn chuyển bảo hiểm thất nghiệp về quê Quảng Trị. Em có cần đem sổ bảo hiểm xã hội ra trung tâm gioi thiệu việc làm để xin giấy chuyển về quê không ạ? Em tên Diễm Ngọc. Em chân thành cảm on!

+) Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì cần xem xét các điều kiện được hưởng theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm năm 2013. 

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Một trong 4 điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp là người lao động phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm địa phương trong thời gian 36 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng, chỉ cần vi phạm một trong 4 điều kiện là bạn đã không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Do vậy, nếu đã quá 3 tháng mà bạn chưa nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp thì bạn không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, nếu không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp thì thời gian bạn đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp không bị mất đi mà sẽ được cộng nối vào các khoảng thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp sau này.

+) Nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp:

>> Xem thêm:  Mức bồi thường khi công ty chấm dứt hợp đồng lao động trái luật ?

Điều 46 Luật việc làm năm 2013 quy định:

"Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp."

Từ quy định trên, bạn sẽ nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm địa phương nơi bạn đang cư trú. Nơi cư trú theo quy định của Luật cư trú là nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú. Do vậy, nếu bạn có đăng ký tạm trú ở Bình Định thì bạn sẽ nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Quảng Trị để hưởng trợ cấp thất nghiệp. 

Thưa luật sư. E đi làm được 4 năm. đóng bảo hiểm đủ 4 năm. Em muốn hỏi ở thời điểm hiện tại 01/09 e có bầu được 6 tuần. Đến ngày 16t9. E xin nghỉ việc. Vậy khi em đăng ký bảo hiểm thất nghiệp xong. E có được nhận tiền thải sản khi sanh kg? Em đang rất hoan mang. Nhờ sự tư vấn của luật sư

Bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội là hai chế độ bảo hiểm khác nhau nên nếu bạn đáp ứng được các điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp nêu trên thì bạn vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Nếu bạn đã nghỉ việc và đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản thì bạn vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014:

"Điều 31. Điều kiện hưởng chế độ thai sản

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.".

- Thời gian 12 tháng trước khi sinh con và Điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội được hướng dẫn tại Điều 9 

"Điều 9. Điều kiện hưởng chế độ thai sản 

Điều kiện hưởng chế độ thai sản của lao động nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội; khoản 3 Điều 3 và khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và được hướng dẫn cụ thể như sau: 

1. Thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được xác định như sau: 

a) Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. 

b) Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Trường hợp tháng đó không đóng bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này. 

Ví dụ 13: Chị A sinh con ngày 18/01/2017 và tháng 01/2017 có đóng bảo hiểm xã hội, thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 02/2016 đến tháng 01/2017, nếu trong thời gian này chị A đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên hoặc từ đủ 3 tháng trở lên trong trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì chị A được hưởng chế độ thai sản theo quy định. 

Ví dụ 14: Tháng 8/2017, chị B chấm dứt hợp đồng lao động và sinh con ngày 14/12/2017, thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 12/2016 đến tháng 11/2017, nếu trong thời gian này chị B đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên hoặc từ đủ 3 tháng trở lên trong trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì chị B được hưởng chế độ thai sản theo quy định. 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Nghỉ không hưởng lương rồi tiến tới nghỉ hẳn việc có phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?