1. Phải làm sao khi bị công ty tài chính làm phiền khi vay tiền trả góp ?
Luật sư trả lời:
Với trường hợp của bạn, bận cần phải xác định rõ hai vấn đề
Một là, bạn không có nghĩa vụ trả nợ trong trường hợp này:
Như bạn đã nêu trên, bạn chỉ là người xác nhận thông tin về tên tuổi, địa chỉ, chứng minh nhân dân của người cháu chứ không phải là người bảo lãnh khoản vay, tức là cam kết với ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm trả nợ nếu cháu bạn không trả. Khả năng cao là cháu bạn không trả được nợ và đang gặp khó khăn về tài chính nên đơn vị cho vay đang có phương án thu hồi nợ.
Hai là, bạn không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi cung cấp những thông tin gian dối nhằm mục đích khiến người khác tin tưởng và giao tài sản cho mình, đồng thời số tiền bạn chiếm đoạt được phải có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên.
Ở đây, do chưa có thông tin nên về phía cháu bạn, bạn cũng không xác định được cháu bạn có hành vi lừa đảo bên cho vay hay không nên chúng tôi chưa thể xác định được có hành vi " không tố giác tội phạm" hay không nhưng có thể khẳng định bạn không đưa ra thông tin gian dối gì ngoài thông tin cá nhân để hỗ trợ việc vay mượn của cháu mình nên bạn không thuộc trường hợp phạm tội hoặc đồng phạm với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bạn đã rất hỗ trợ phía công ty tài chính bằng cách cung cấp số điện thoại và nhắc nhở cháu bạn trả nợ, hiện tại bạn không có nghĩa vụ và không còn liên quan đến việc vay mượn này nữa, việc công ty này thướng xuyên lấy số điện thoại của bạn, gọi điện, làm phiền gây ảnh hưởng đến sứa khỏe và công việc của bạn thì bạn hoàn toàn có quyền tố cáo hành vi naỳ tới cơ quan có thẩm quyền để được hỗ trợ.
Căn cứ vào điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viên thông, công nghệ thông tin quy định:
Điều 102. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin....3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Truy nhập, sử dụng, tiết lộ, làm gián đoạn, sửa đổi, phá hoại trái phép thông tin, hệ thống thông tin;b) Không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc truy nhập thông tin hoặc loại bỏ thông tin trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi truyền đưa hoặc cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số;c) Không thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác định danh sách chủ sở hữu thuê chỗ lưu trữ thông tin số;d) Không bảo đảm bí mật thông tin của tổ chức, cá nhân thuê chỗ lưu trữ thông tin số trừ các trường hợp cung cấp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;đ) Không thực hiện các biện pháp quản lý, kỹ thuật cần thiết để bảo đảm thông tin cá nhân không bị mất, đánh cắp, tiết lộ, thay đổi hoặc phá hủy khi thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng;e) Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật;g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;h) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bị cấm;i) Ngăn chặn trái pháp luật việc truyền tải thông tin trên mạng, can thiệp, truy nhập, gây nguy hại, xóa, thay đổi, sao chép và làm sai lệch thông tin trên mạng;k) Không tiến hành theo dõi, giám sát thông tin số của tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;l) Không hợp tác, phối hợp điều tra các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình truyền đưa hoặc lưu trữ thông tin số của tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;m) Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;n) Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;o) Chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa trên mạng dưới bất kỳ hình thức nào;p) Cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa trên mạng;q) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;r) Thu giữ thư, điện báo, điện tín trái pháp luật.
Khi đó, bạn có thể tiếp tục yêu cầu tổ chưc tín dụng này ngừng hành vi làm phiền qua điện thoại. Nếu họ vẫn tiếp tục, bạn có thể báo (trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại, bằng văn bản hoặc thư điện tử) cho doanh nghiệp viễn thông mà mình là khách hàng (thuê bao) hoặc gửi đơn khiếu nại cho Sở Thông tin và truyền thông địa phương để yêu cầu giải quyết. Theo đó, doanh nghiệp viễn thông khi nhận được khiếu nại, tố cáo của khách hàng về việc quấy rối qua điện thoại cần theo dõi, kiểm tra, xác minh và yêu cầu chủ thuê bao ngừng ngay việc quấy rối. Nếu chủ thuê báo quấy rối cố tình vi phạm, doanh nghiệp đó ngừng cung cấp dịch vụ, đồng thời báo cáo kết quả cho Sở Thông tin và truyền thông địa phương của người khiếu nại, người quấy rối để xử lý vi phạm theo quy định.
2. Lãi suất tối đa khi vay trả góp là bao nhiêu % ?

Luật sư tư vấn Luật Dân sự về lãi suất, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Theo điều 468 Luật dân sự năm 2015 quy định :
Điều 468. Lãi suất1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ
3. Tư vấn chậm trả góp bên PPF khi mua máy tính bảng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời:
Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì trường hợp của bạn thuộc trường hợp mua trả chậm, chả dần theo Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
4. Tranh chấp liên quan đến việc vay tiền trả góp ?
>> Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162
Trả lời:
Bộ luật Dân sự 2015 cóquy định:
Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Căn cứ vào Điều 470 Bộ luật dân sự, hợp đồng vay của bạn là hợp đồng vay có kỳ hạn là 24 tháng và bạn ó thể trả lại tài sản vay trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác đồng ý cho bạn trả cả gốc và lãi trước thời hạn.
Theo như bạn cung cấp, bạn đã trả toàn bộ gốc và lãi nhưng sau đó bên phía công ty H vẫn yêu cầu bạn đóng tiền lãi hai tháng, trong trường hợp này nếu số tiền 15.300.000 đồng là tổng số tiền bao gồm cả gốc và lãi tính từ thời điểm bạn đóng xong tháng 11 thì coi như bạn đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của mình.
Do đó, trường hợp có tranh chấp xảy ra, và phía bên công ty gọi điện báo cho bạn đã đóng trễ tiền thì bạn cần đến phòng giao dịch của công ty trình bày về vấn đề này và bạn cần xuất trinh các giấy tờ, hóa đơn giao dịch giữa bạn với phía bên công ty trước đó để được xác định lại bạn đã nộp đủ số tiền.
5. Vay tiền trả góp lãi suất 6%/tháng có vi phạm pháp luật không?

Tư vấn luật dân sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162
Trả lời:
Về việc cho vay với lãi suất 6%/tháng.
Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
Điều 468. Lãi suất1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ
Về việc đến hạn trả mà bạn chậm trả
Theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 thì
Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.
Bạn căn cứ vào quy định trên để tính cụ thể số tiền lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn mà mình phải trả cho công ty.
Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê