1. Phải làm thế nào khi bố đánh đập mẹ ?

Kính gửi công ty luật Minh Khuê! Tôi có một số câu hỏi như sau: -Ba tôi thường hay bạo hành mẹ tôi, đã từng đánh mẹ và chửi mắng xúc phạm nhân phẩm, dọa đánh, dọa giết chuyện xảy ra như cơm bữa hơn 32 năm, cho tới tận hôm nay và càng có dấu hiệu nguy hiểm hơn.
Tuy bây giờ không có đánh như trước vì sợ mắc cỡ với hàng xóm nhưng liên tục chửi mẹ tôi thậm tệ như súc vật, và vẫn dọa đánh dọa giết rất nặng, khi mẹ tôi ngủ ông ta liên tục tạo ra tiếng ồn lớn để mẹ tôi sợ hãi, phá cửa phòng riêng của mẹ tôi, ông ta không đánh nhưng liên tục dùng các vật sắc hoặc gậy gộc để đánh vào chỗ mẹ tôi đang ngồi hoặc đang nằm ngủ làm bà rất lo sợ và hoang mang, tinh thần sa sút trầm trọng. Tôi có thể bảo vệ mẹ bằng cách ngăn cản bạo lực xảy ra và nếu lỡ có đánh trả (Phòng vệ chính đáng) khi không thể ngăn cản hành vi bạo lực của ba bằng cách ngăn cản đơn thuần, nhưng không gây thương tích nghiêm trọng, chỉ xây xát, thì tôi có bị phạm vào tội gì không?
-Ba tôi như vậy và suốt 32 năm chưa bao giờ có dấu hiệu thay đổi, liệu tôi có thể trình báo lên cơ quan công an hay tòa án, và ba tôi sẽ bị xử lý như thế nào?
-Nếu ba tôi tấn công tôi bằng tay không hoặc bằng vũ khí khi tôi không thách thức hay xúc phạm ông (Tôi chỉ bênh vực cho mẹ, không hề chửi bới, nói rất đàng hoàng rất cẩn trọng lời nói và tôi bị ổng tố cáo rằng tôi xúc phạm ông ta điều này có đúng không), tôi có quyền tự vệ chính đáng như là đánh trả để ngăn cản điều đó hay không? (Thưa quý luật sư tôi không bao giờ muốn tấn công hay làm hại ba của mình)
-Ba và mẹ tôi là đồng sở hữu căn nhà cùng với hai vợ chồng bác ruột tôi (Tổng cộng có 4 đồng sở hữu), khi tôi bảo vệ mẹ, tôi bị ba ghét và muốn tống cổ ra khỏi nhà, vậy đơn phương ba đuổi tôi ra khỏi nhà nhưng 3 người đồng sở hữu không chấp nhận và muốn tôi ở lại. Vậy tôi có bị bắt buộc ra khỏi nhà hay không? Tôi là con ruột và tôi chỉ muốn ở lại nhà này để bảo vệ mẹ, vì không có tôi, ba tôi sẽ bạo hành mẹ tôi rất nặng và không ai có thể kịp thời ngăn cản điều đó.
-Ba tôi thường hay áp đặt gia đình theo cách rất phong kiến, muốn mọi người phải theo ý của ông ấy, nên thường xuyên gây gỗ và chửi bới nhục mạ mẹ tôi và tôi mỗi khi không thực hiện những yêu cầu của ông ấy. Tôi và mẹ tôi không bao giờ gây gỗ hay chửi mắng ông ấy 1 câu. Hiện tại tôi rất băn khoăn không biết xử lý thế nào, một phần tôi không muốn bất hiếu với ba mình vì việc bảo vệ mẹ sẽ làm tôi trở nên bất hiếu trong mắt ba tôi, một phần tôi không thể khoanh tay đứng nhìn bạo lực gia đình diễn ra, tôi sợ rằng khi bạo lực diễn ra khiến tôi không thể chịu đựng nổi, tôi sợ rằng mình sẽ làm ông ấy bị thương, tôi phải làm sao?
Xin quý công ty luật Minh Khuê cho tôi một lời khuyên. Trân trong cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Đối với hành vi bạo lực gia đình:

Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định như sau:

"1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;..."

Khoản 2, 3 Điều 49 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm hại sức khỏe thành viên trong gia đình như sau:

“Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này”.

Như vậy, ba bạn đã có hành vi ngược đãi , xâm phạm tính mạng sức khỏe của mẹ bạn trong thời gian dài, ba bạn có thể bị xử phạt hành chính theo quy định nói trên.

Để bảo vệ mẹ bạn, mẹ bạn có thể làm đơn xin ly hôn đơn phương gửi Tòa án nhân dân nơi bố bạn cư trú để mẹ bạn không phải tiếp tục sống chung với bố bạn nữa hoặc nếu nhận thấy hành vi của bố bạn quá nghiêm trọng, bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của bố bạn đối với cơ quan công an để bố bạn chịu trách nhiệm thích đáng cho những hành vi trái pháp luật của mình. Căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp, bố bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người kháctheo quy định tại điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Hành vi phòng vệ chính đáng ?

Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về phòng vệ chính đáng như sau:

"Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này."

Như vậy trong trường hợp mẹ bạn hoặc bản thân bạn bị xâm hại sức khỏe, bạn hoàn toàn có quyền chống trả lại một cách cần thiết hành vi của ba bạn. Tuy nhiên hành vi chống trả này không được vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nếu không có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ở đây, pháp luật không quy định cụ thể như thế nào là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nhưng có thể hiểu hành vi phòng vệ chính đáng phải đảm bảo hai điều kiện sau:

- Thứ nhất, hành vi tấn công của người có hành vi vi phạm phải là đang hiện hữu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân.

- Thứ hai, người phòng vệ có sự chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi tấn công ngay cả những trường hợp có biện pháp khác tránh được sự tấn công (sự chống trả này phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công đặt trong hoàn cảnh cụ thể và để đánh giá được hành vi phòng vệ là cần thiết, phù hợp là tương đối phức tạp cà cần phải dựa vào một số căn cứ sau: tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, mức độ thiệt hại bị đe dọa gây ra, sức mạnh và sức mãnh liệt của hành vi tấn công, tính chất và mức độ nguy hiểm của phương pháp và phương tiện hay công cụ mà người tấn công sử dụng...).

Nếu hành vi chống trả của người phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại thì đó là vượt quá phòng vệ chính đáng và người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự và các hành vi tương ứng như: giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá phòng vệ chính đáng.

Theo điều 136 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

3. Quyền của các đồng sở hữu đối với tài sản chung:

Theo thông tin bạn cung cấp, ngôi nhà là tài sản thuộc sở hữu của bốn người là hai bác của bạn và bố mẹ bạn. Bộ luật dân sự 2005 quy định về vấn đề quyền của các đồng sở hữu đối với tài sản sở hữu chung như sau:

Điều 102. Tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1. Việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này.

2. Việc xác định tài sản chung của các thành viên tổ hợp tác, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo quy định tại Điều 506 của Bộ luật này.

3. Việc xác định tài sản chung của các thành viên của tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo thỏa thuận của các thành viên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Theo đó, khi quyết định vấn đề liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà phải có sự đồng ý của cả đồng sở hữu. Do đó, khi ba bạn vì tức giận mà muốn đuổi Bạn ra khỏi nhà mà không có sự đồng ý của các đồng sở hữu còn lại là không có căn cứ.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

2. Bất đồng quan điểm, cãi vã, có đánh nhau thì có ly hôn được không ?

Xin chào Luật sư. Em và chồng em kết hôn với nhau được gần 5 năm và đã có 1 con, hiện nay được 3 tuổi. Trong quá trình sinh sống vợ chồng bọn em thường xuyên cãi nhau, đánh nhau khiến cuộc sống hôn nhân trở nên ngột ngạt, căng thẳng và rất mệt mỏi. Hiện nay em muốn được ly hôn để giải thoát cho nhau, nhưng em nghe nói ly hôn cần phải có ly do, vậy như trường hợp của em có ly hôn được không?
Mong Luật sư tư vấn.

Hai vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã và thi thoảng có đánh nhau thì có ly hôn được không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định có 02 trường hợp ly hôn cụ thể như sau:

- Ly hôn thuận tình:

Căn cứ theo điều 55, Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

- Ly hôn theo yêu cầu của một bên (ly hôn đơn phương)

Căn cứ theo điều 56, Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Trong trường hợp của bạn nếu cuộc sống hôn nhân đã không còn hạnh phúc, nhiều lần hòa giải, điều chỉnh suy nghĩ cách sống...mà cuộc sống vợ chồng vẫn không được cải thiện, vẫn không thể sống hạnh phúc, hai vợ chồng muốn giải thoát cho nhau thì bạn và chồng bạn có thể đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết cho bạn và chồng bạn được ly hôn.

Nếu hai vợ chồng đều mong muốn được giải thoát cho nhau thì có thể làm thủ tục ly hôn thuận tình.

Để được Tòa án giải quyết ly hôn thuận tình bạn cần chuẩn bị các giấy tờ sau:

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn hoặc đơn khởi kiện (theo yêu cầu của Tòa án mà bạn nộp đơn)

- Giấy đăng ký kết hôn bản chính

- Chứng minh thư và sổ hổ khẩu của hai vợ chồng (bản sao công chứng)

- Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có con chung)

- Bản sao công chứng các giấy tờ về tài sản (nếu có tài sản chung)

Sau đó nộp lên Tòa án nhân dân nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng.

Nếu một trong hai người không đồng ý ly hôn thì có thể ly hôn đơn phương (ly hôn theo yêu cầu một bên), thủ tục bao gồm các giấy tờ nêu trên. Nộp lên Tòa án nhân dân nơi cư trú, làm việc của bị đơn.

>> Tham khảo mẫu đơn ly hôn sau: Đơn ly hôn thuận tình viết như thế nào để được Toà án chấp nhận ?

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

3. Chồng đánh vợ để bảo vệ "bồ nhí" có bị coi là bạo lực gia đình?

Thưa luật sư, thời gian gần đây xã hội đang rất bức xúc với vấn đề chồng đi cặp bồ, bị vợ phát hiện mà đánh vợ để bảo vệ bồ nhí. Việc làm này có thể coi là bạo lực gia đình không ?
Cảm ơn luật sư

Chồng đánh vợ để bảo vệ

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Khi hai người nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì phải có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc nhau theo quy định của điều 19 - Tình nghĩa vợ chồng Luật Hôn nhân gia đình 2014:

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Do vậy, việc giữa một trong hai người có hành vi xâm phạm thân thể, sức khỏe và tính mạng của nhau thì có thể coi là hành vi bạo lực gia đình, bởi theo điểm a khoản 1 điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2014 cấm hành vi xâm hại đến sức khỏe, tính mạng quy định:

1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

Do đó, để ngăn chặn và trừng phạt những hành vi trái pháp luật thì pháp luật có những biện pháp từ phạt tiền tới truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào hành vi của người vi phạm.

Đối với việc phạt tiền được quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

Đối với việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì người thực hiện hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến dưới 30% thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ 06 tháng đến 03 năm theo khoản 1 điều 134 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”.

Như vậy, việc chồng đánh vợ để bảo vệ bồ nhí là một hành vi bạo lực gia đình, tùy vào mức độ xâm hại về sức khỏe, tính mạng mà người chồng có thể bị phạt tiền hoặc truy cứu trách nhiệm hình sư.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Mang dao phòng thân có được pháp luật cho phép không ? Dùng dao đâm người khác phạm tội gì ?

4. Chồng ngoại tình, thường xuyên đánh vợ thì nên giải quyết như thế nào?

Chào luật sư.Xin các bác hãy giúp cháu, đến nước này cháu cũng không còn sự lựa chọn nào khác, sau bao nhiêu ngày tháng suy nghĩ và đau khổ, đấu tranh tư tưởng cháu mới đưa ra quyết định này, nói thật với bác là bố cháu ngoại tình, ông đã thú nhận việc này , với tất cả mọi ng trong gia đình.

Cách đây 10 năm, ông đã gặp người đàn bà đó, chị ta cũng chỉ hơn cháu có vài tuổi thôi, nhưng c ta mưu mô và tính toán, sau khi quen bố cháu, ng đó đã qua lại, quan hệ rất nhiều lần, moi tiền của bố cháu, ông xây nhà, mua xe, sắm sửa đồ đạc cho cô đó, cô ta có bầu, và cô ta quyết định li dị chồng, ( chồng cô ta đi xuất khẩu lao động). Bố cháu thời điểm đó đang làm chủ tịch xã. Có tiền, bao nhiêu tiền là mang lên cho cô ta. 1 người đàn bà chỉ ở nhà, ko công ăn vc làm, nuôi con. Trong thời gian đó, bố cháu vẫn đi làm, nhưng chúng cháu đã theo dõi và phát hiện ra mối quan hệ đó. Bây giờ bố cháu đối xử với mẹ cháu rất rất tệ. Chúng cháu đã đi lấy chồng xa. Nhưng mỗi lần mẹ cháu gọi điện vì bị bố cháu đánh chửi và đay nghiến chúng cháu thật xót xa. Cả nhà đã cho ông nhiều cơ hội sửa sai nhưng ông ko làm được. Bây giờ chúng cháu và mẹ cháu đến đường cùng rồi. Chúng cháu muốn soạn 1 lá đơn tố cáo ông ngoại tình, có con riêng, bạo hành vợ. Mà chúng cháu chưa biết phải viết như thế nào, mong luật sư giúp đỡ.

Cháu chỉ mong mọi sự tốt lành, người xấu phải bị trừng trị. Cháu cũng mong luật sư tư vấn cho cháu nên làm như thế nào để mọi tài sản trong gia đình ko bị chia cho người ngoài. Cháu thật sự rất rối trí nên viết hơi lủng củng, mong luật sư chỉ đường dẫn lối cho cháu biết cháu phải làm như thế nào với ạ ?

Cháu cảm ơn!

- Quach Quyen

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Hành vi dánh đập, lăng mạ, xỉ nhục người khác tùy theo mức độ nghiêm trọng hay không mà có hình phạt theo quy định pháp luật. Trong trường hợp hành vi của bố bạn chưa nghiêm trọng, tức là chưa làm tổn thương cơ thể hoặc mức độ vi phạm chưa đủ yếu tố cấu thành tội theo quy định pháp luật hình sự thì sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Nếu mức vi phạm của bố bạn ở mức độ nghiêm trọng hơn, đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì căn cứ theo Điều 134, Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015 có thể bố bạn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc tội làm nhục người khác. Vấn đề này cần được cơ quan công an vào cuộc làm rõ và có kết luận điều tra thì mới có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ hai: Bạn cho rằng sẽ làm đơn tố cáo hành vi ngoại tình thì cũng không giải quyết được gì vì thực tế hành vi ngoại tình chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính hoặc thậm chí không được giải quyết thỏa đáng. Có chăng hành vi ngoại tình là căn cứ để mẹ bạn có quyên yêu cầu ly hôn đơn phương. Trong trường hợp này bố bạn là người có lỗi dẫn đến đổ vỡ hôn nhân nên khi ra Tòa thì tài sản cũng như các quyền lợi khác liên quan chăc chắn bố bạn không có lợi bằng mẹ bạn. Thêm một điều nữa nếu có ly hôn thì tài sản sẽ không được chia cho người ngoài mà chỉ là chia đôi tài sản cho bố mẹ bạn mà thôi. Vậy nên trong trường hợp cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và cũng không còn khả năng hàn gắn thì ly hôn có thể là lựa chọn phù hợp nhất.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

5. Tài sản nào là tài sản chung của hai vợ chồng ?

Tôi kết hôn năm 2008 đến năm 2015 ba mẹ chồng và em gái chồng làm thủ tục trao tặng tài sản mảnh đất cho chồng tôi và bây giờ chồng tôi đứng tên mảnh đất đó mà không có tên tôi. Vậy tài sản đó có phải là tài sản chung hay không? Tôi có quyền gì trong tài sản đó không?
Cảm ơn!

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo đó, bạn cần xác định nếu đó là tài sản chồng bạn được tặng cho riêng (dựa trên hợp đồng tặng cho) thì sẽ là tài sản riêng của chồng bạn. Trường hợp chỉ thực hiện tặng cho chung thì xác định là tài sản chung của vợ chồng dù chỉ một mình chồng bạn đứng tên. Trong trường hợp chồng bạn không chứng minh được đây là khối tài sản được tặng cho riêng thì vẫn xác nhận đây là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Khi đã xác định là tài sản chung thì bạn sẽ có một phần quyền lợi trong khối tài sản này.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tài sản chung vợ chồng được chia như thế nào khi ly hôn đơn phương ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?