1. Điểm giống nhau giữa hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản
- Đều là những giao dịch dân sự, thiết lập dựa trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên. Hai dạng hợp đồng này đều được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, đáp ứng điều kiện mà một hợp đồng dân sự phải có;
- Chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự 2015. Cụ thể hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại mục 1 Chương XVI Bộ luật Dân sự năm 2015 ( từ Điều 430 đến Điều 454). Còn hợp đồng mua bán hàng hoá vừa chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự lẫn Luật thương mại năm 2005
- Cả hai loại hợp đồng này là loại hợp đồng song vụ, có đền bù.
- Về hình thức: hợp đồng có thể giao kết bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể.
- Hợp đồng phải đảm bảo các điều kiện chung theo quy định của Bộ luật dân sự.
Như vậy, hợp đồng mua bán tài sản và mua bán hàng hoá giống nhau bởi những đặc điểm trên
2. Điểm khác nhau giữa hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản
| Tiêu chí phân biệt | Hợp đồng mua bán hàng hóa | Hợp đồng mua bán tài sản |
| Khái niệm | Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.” Luật Thương mại 2005 không có quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng về bản chất hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Kết hợp định nghĩa chung về hợp đồng mua bán tài sản và khái niệm riêng về mua bán hàng hóa, có thể rút ra kết luận sau: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bản có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”. | Căn cứ tại Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.
|
| Đối tượng | Về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật thương mại 2005, hàng hóa bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và cả vật gắn liền với đất đai. Ngoài ra, tại Điều 25 Luật thương mại 2005 đã bổ sung thêm quy định về hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng hóa cấm kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện.
Do vậy, không phải hàng hóa nào cũng được phép kinh doanh mà phải theo những quy định của pháp luật tức là đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh thì mới được phép lưu thông cũng như mua bán trên thị trường. | Tài sản bao gồm: - Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; - Bất động sản và động sản (hiện có hoặc hình thành trong tương lai). |
| Chủ thể | Về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005 thì “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.”. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật thương mại khi chủ thể trên lựa chọn áp dụng Luật này. | Cá nhân, tổ chức có thể có hoặc không có tư cách pháp nhân |
| Mục đích | Chuyển giao quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua nhằm mục đích sinh lợi. Đối với hai bên chủ thể là thương nhân với nhau thì mục đích là lợi nhuận. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa ngoài chủ thể là thương nhân thì còn có các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân, trường hợp này mục đích của việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa là dành cho sinh hoạt, tiêu dùng hay phục vụ hoạt động của các cơ quan tổ chức. Những hợp đồng được thiết lập giữa bên không nhằm mục đích sinh lợi với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, về nguyên tắc, không chịu sự điều chỉnh từ Luật Thương mại 2005 trừ khi bên không nhằm mục đích sinh lợi đó lựa chọn áp dụng Luật Thương mại 2005. | Chuyển giao quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua với nhiều mục đích khác nhau như là tiêu dùng, để ở, tặng cho, kiếm thêm một phần thu nhập nhờ chênh lệch giá,… |
| Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp | Tòa án, Trọng tài thương mại | Tòa án |
| Thời điểm chuyển quyền sở hữu | Quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao. | Sau khi các bên thực hiện nghĩa vụ trả tiền và nhận tài sản. Đối với những tài sản phải đăng kí quyền sở hữu, sau khi đăng kí quyền sở hữu và được cấp đăng kí hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu thì người mua có quyền sở hữu.
|
| Pháp luật điều chỉnh | Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 | Bộ luật Dân sự năm 2015 |
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hoá, mua bán tài sản khác nhau ở những đặc điểm như: khái niệm; đối tượng; chủ thể; mục đích; cơ quan có thẩm quyền tranh chấp; chuyển quyền sở hữu; pháp luật điều chỉnh.
3. Quy định về quyền và nghĩa vụ của bên mua bán hàng hoá
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong Hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định tại Mục 2 Chương II của Luật Thương mại 2005. Trong đó quyền của người mua sẽ là nghĩa vụ của bên bán, cụ thể:
Thứ nhất các quyền của người mua bao gồm:
- Căn cứ tại Điều 34 Luật Thương mại 2005 quy định quyền của người mua sẽ được bên bán giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng
- Bên mua được bên bán giao hàng đúng địa điểm đã thỏa thuận (Điều 35 Luật Thương mại 2005);
- Điều 37 Luật Thương mại 2005 Bên mua được bên bán giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng . Trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên không có thỏa thuận khác;
- Bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật Thương mại 2005, cụ thể:
+ Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;
+ Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;
+ Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua;
+ Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.
- Bên mua được bên bán đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa. Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa được xác định như sau: trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao (Điều 45, Điều 62 Luật Thương mại 2005);
- Trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận (Điều 49 Luật Thương mại 2005).
Thứ hai: Nghĩa vụ của bên mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm các nghĩa vụ sau:
- Căn cứ tại Điều 50 Luật Thương mại 2005 quy định: Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.
- Điều 55 Luật Thương mại 2005 bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hóa trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác
- Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán tài sản được quy định cụ thể tại mục 1 Chương XVI Bộ luật Dân sự năm 2015. Còn quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá được quy định tại Luật Thương mại nêu trên.
Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!
Bài viết liên quan: Sự khác biệt giữa hợp đồng tặng cho tài sản và hợp đồng mua bán tài sản