1. Khái quát chung về nghi can và nghi phạm
Mặc dù được sử dụng tương đối phổ biến trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tuy nhiên các văn bản pháp luật hiện hành chưa co quy định về nghi can, nghi phạm. Tuy vậy, từ thực tế đời sống có thể hiểu nghi can là người bị tình nghi thực hiện tội phạm, chưa bị bắt; Nghi phạm là người bị nghi thực hiện tội phạm, đã bị bắt. Như vậy, nghi can và nghi phạm chỉ là những người bị nghi thực hiện tội phạm mà cơ quan điều tra chưa có đủ chứng cứ chứng minh người đó là người thực hiện tội phạm, chưa có quyết định khởi tố bị can. Tuy nhiên xét về mức độ thì nghi can nhẹ hơn nghi phạm.
Pháp luật Việt Nam có rất nhiều thuật ngữ, những thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng đối với việc định hình một vấn đề nào đó. Trong số những thuật ngữ đó, bài viết này đề cập tới thuật ngữ nghi can và trình bày những thông tin liên quan đến nghi can. Bộ luật Hình sự hiện hành quy định rõ người bị buộc tội chỉ được coi là người bị kết án khi bản án của Tòa án có hiệu lực. Tuy nhiên, việc buộc tội phải trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau và có nhiều cách gọi khác nhau đối với người bị buộc tội.
Cụ thể, từ trước giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và trong giai đoạn xác minh tin báo tố giác tội phạm thì đối với những người bị người khác tố giác được gọi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Còn bị đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ thì được gọi là người bị tạm giữ theo Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.
2. Phân biệt nghi can và nghi phạm
Hai từ ” nghi phạm”, “nghi can” là thuật ngữ pháp lý thường được dùng trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Tuy nhiên, mặc dù nó được sử dụng rất thông dụng nhưng lại không được quy định rõ trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 hay các văn bản pháp lý liên quan khác. Vì vậy nên thường xảy ra trường hợp những người không chuyên về luật bị nhầm lẫn giữa các thuật ngữ ” nghi phạm”, “nghi can”. Cụ thể thì “nghi can”, “nghi phạm” có thể được hiểu như sau:
- Nghi can có thể được hiểu là người bị cơ quan điều tra nghi ngờ là người có liên quan đến vụ án, chưa có dấu hiệu phạm tội rõ ràng và không có lệnh bị bắt để điều tra.
- Nghi phạm có thể được hiểu là người bị cơ quan điều tra nghi ngờ là tội phạm, có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa đủ chứng cứ chứng minh và đã có lệnh bị bắt để điều tra.
Tuy nhiên, các bạn không nên nhầm lẫn giữa “nghi can”, “nghi phạm” là hung thủ hoặc là tội phạm, bởi lẽ người bị coi là nghi can hoặc là nghi phạm thì chỉ bị cơ quan nghi vấn họ liên quan đến vụ án hoặc nghi họ là tội phạm nhưng không khẳng định họ là tội phạm hay hung thủ. Nên việc dùng từ hung thủ hay tội phạm đối với nghi can và nghi phạm không chỉ là việc dùng sai thuật ngữ pháp lý mà còn là hành vi gián tiếp buộc tội họ là tội phạm trong khi họ chưa bị kết tội bởi Tòa án. Đây là hành vi vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự, cụ thể, tại Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự 2015cos quy định cụ thể như sau:
Suy đoán vô tội
- Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
- Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
Do đó, các bạn nên cẩn thận trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý để không hiểu sai tính chất và nội dung của vụ án.
“Nghi can” chính là thuật ngữ được dùng để chỉ người đã thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên người này mới chỉ được xác định ở dạng nghi vấn mà cơ quan pháp luật chưa có đầy đủ chứng cứ và cơ sở để kết luận hay khẳng định chính xác người đó có phải là hung thủ hay không. Ngoài ra, nghi can cũng được hiểu là người đang bị nghi ngờ là có sự liên quan đến vụ án hình sự và thuộc vào trường hợp chưa bị bắt vì chưa đủ chứng cứ để kết tội họ. Tuy nhiên, trong Hiến pháp và pháp luật về tố tụng và điều tra hình sự của Việt Nam, kể cả đối với Bộ luật tố tụng hình sự cũng không tồn tại các thuật ngữ pháp lý nghi can, nghi phạm. Thế nhưng từ thực tế cuộc sống, chúng ta có thể hiểu 2 thuật ngữ này như sau: Nghi can được hiểu là người bị nghi có liên quan đến vụ án và thuộc trường hợp chưa bị bắt. Nghi phạm được hiểu là người bị nghi là tội phạm, có dấu hiệu của một tội phạm và đã bị lệnh bắt.
Nghi can và nghi phạm là hai thuật ngữ khá phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp lý liên quan khác lại không có quy định về hai thuật ngữ này. Ở góc độ ngữ nghĩa, “nghi can” được hiểu là người bị nghi là có liên quan đến vụ án và thuộc trường hợp chưa bị bắt. Còn “nghi phạm” được hiểu là người bị nghi là tội phạm, có dấu hiệu của một tội phạm và đã bị lệnh bắt.
- Nghi can và nghi phạm là hai thuật ngữ khá phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực tố tụng hình. Tuy nhiên, trong bộ luật tố tụng hình sự hay các văn bản pháp lý liên quan khác lại không có quy định về hai thuật ngữ này. Do đó, bạn đọc rất hay bị nhầm lẫn mặc dù bản chất của nghi phạm và nghi can là khác nhau.
- Nghi can có thể được hiểu là người bị nghi ngờ có liên quan đến vụ án, nhưng chưa có dấu hiệu phạm tội và chưa có lệnh bị bắt.
- Nghi phạm có thể được hiểu là người bị nghi ngờ là tội phạm, có dấu hiệu của tội phạm, tuy vẫn chưa đủ chứng cứ chứng minh nhưng đã có lệnh bị bắt để điều tra.
3. Ví dụ về nghi can và nghi phạm
Ví dụ 1: trong một vụ án giết người nghiêm trọng xảy ra, cơ quan điều tra sẽ không giới hạn ở bất cứ một người cụ thể nào duy nhất liên quan đến vụ án, bởi vì vụ án này sẽ có rất nhiều đối tượng có sự khả nghi và được đưa vào diện nghi vấn, hoặc những người bị người khác tố giác trong quá trình công an/ cảnh sát hình sự lấy lời khai. Lúc này chưa có căn cứ xác thực đủ khả năng để khẳng định người đó là người thực hiện hành vi giết người thì người đó được gọi là nghi can. Người nghi can này từ đó được đưa vào tầm ngắm để theo dõi, quan sát hoặc bị bắt về trụ sở cảnh sát để tiến hành điều tra, trong quá trình điều tra mà cơ quan điều tra đã tìm được căn cứ rõ ràng khẳng định người này chính là hung thủ trong vụ án thì bên cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành khởi tố và người nghi can này trở thành bị can.
Như vậy, khi một ai đó bị nghi ngờ là người có hành vi giết người nhưng chưa có bằng chứng cụ thể thì người đó mới chỉ là nghi can. Cơ quan điều tra có thẩm quyền cần thực hiện nghiệp vụ và công tác điều tra để có thể xác định rõ ràng liệu người nghi can đó có chính xác là hung thủ hay không mới có thể kết tội họ, không nên vội vàng đưa ra kết luận tránh những sai sót trong quá trình điều tra.
Ví dụ 2: A và B bị cơ quan điều tra nghi dính dáng đến một vụ án trộm cắp và được cơ quan điều tra mời lên để làm việc. Lúc này, A và B chỉ được xem là nghi can của vụ án. Tuy nhiên, sau khi làm việc với A, B đồng thời điều tra kỹ hơn thì cơ quan điều tra đã phát hiện B có dấu hiệu, hành vi phạm tội liên quan đến vụ án nên đã ra quyết định giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với B. Lúc này, B sẽ không còn là nghi can nữa mà trở thành nghi phạm.