Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên Cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Căn cứ vào những dấu hiệu khách quan để xác định đồng phạm:
+ Phải có hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm.
- Những người này phải có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm (về độ tuổi, nãng lực trách nhiệm hình sự).
- Hành vi vi phạm pháp luật mà họ thực hiện phải có đủ yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập.
+ Những người tham gia trong đồng phạm phải có sự cùng chung hành động và đều hướng tối một kết quả chung.
- Hành vi của một người có ý nghĩa với hành vi của người khác, hành vi của họ có tác động qua lại biện chứng với nhau và là một khâu cần thiết trong hoạt động phạm tội chung tạo thành một thể thông nhất.
- Hành vi của những người tham gia đồng phạm phải có mối quan hệ nhân quả với hậu quả tác hại do tội phạm gây ra.
- Hành vi người tổ chức, người xúi giục phải xảy ra trước hành vi của người thực hành. Hành vi của người giúp sức có thể xảy ra trước, đồng thời với hành vi của người thực hành, còn nếu xảy ra sau thì phải có sự hứa hẹn thỏa thuận từ trước.
- Hậu quả của tội phạm là kết quả chung của hành vi của tất cả những người tham gia trong đồng phạm.
- Căn cứ vào những dấu hiệu chủ quan
+ Lỗi: Những người đồng phạm phải cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
- Mỗi người trong đồng phạm không những nhận thức được hành vi của mình có tính nguy hỉểm cho xã hội, mà còn nhận biết được hành vi của những người đồng phạm khác cũng là nguy hiểm cho xã hội.
- Mỗi người trong đồng phạm đều thấy trưóc hậu quả nguy hiểm sẽ xảy ra cho xã hội.
- Những người trong đồng phạm đều mong muốn cho hậu quả nguy hiểm xảy ra hoặc để mặc cho hậu quả nguy hiểm xảy ra cho xã hội.
+ Động cơ, mục đích: Với những tội quy định dấu hiệu động cơ, mục đích là dấu hiệu bắt buộc thì đòi hỏi những người đồng phạm phải có cùng động cơ, mục đích.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn như sau:
1. Đồng phạm là gì?
Để nói về đồng phạm thì hiện nay Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017 có quy định rất rõ về đồng phạm. Theo đó thì đồng phạm được hiểu là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Theo quy định của pháp luật thì người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
- Đầu tiên là về người thực hành chính là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm có thể được hiểu là trực tiếp thực hiện tội phạm thể hiện ở việc trực tiếp thực hiện hành vi thỏa mãn dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của tội phạm được quy định tại điều luật cụ thể phần các tội phạm của bộ luật hình sự. Người trực tiếp thực hiện tội phạm thì là người tự mình thực hiện hành vi, người thực hiện hành vi có thể sử dụng hoặc không sử dụng công cụ phương tiện phạm tội nhưng có tác động gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên người trực tiếp thực hiện tội phạm họ cũng có thể không tự mình thực hiện hành vi trực tiếp tác động đến đối tượng tác động của tội phạm mà có thể tác động đến người khác để người đó thực hiện hành vi trực tiếp tác động đến để thực hiện hành vi ý định phạm tội của mình.
- Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, họ là người chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người tổ chức thì có thể chỉ giữ vai trò là người cầm đầu hoặc chủ mưu hoặc chỉ huy nhóm đồng phạm cũng có thể là vừa là người cầm đầu, người chủ mưu và chỉ huy nhóm đồng phạm.
- Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ,thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Người này là người có những hành vi tác động đến ý thức, tư tưởng của người khác làm cho người bị xúi giục thực hiện tội phạm.
- Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Đặc điểm nổi bật nhất của người giúp sức đó là người giúp sức là người tạo ra những điều kiện thuận lợi cho người đồng phạm khác thức hiện tội phạm. Họ có thể giúp sức về vật chất hoặc là giúp sức về mặt tinh thần cho những người đồng phạm khác thực hiện hành vi phạm tội.
+ Giúp sức về tinh thần là họ cổ vũ, động viên, đưa ra những hướng dấn, đóng góp ý kiến
+ Giúp sức về mặt vật chất thì có thể biểu hiện ở những hành vi cụ thể như là người này họ tiến hành cung cấp công cụ, phương tiện cho người khác, loại bỏ, khắc phục những khó khăn, trở ngại tạo điều kiện để cho những người thực hành thực hiện tội phạm đó.
Vậy thì trong trường hợp mà người thực hành vượt quá hành vi thì người đồng phạm có phải chịu trách nhiệm hay không? Thì căn cứ tại khoản 4 điều 17 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017 thì người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
2. Căn cứ xác định đồng phạm.
Để xác định một người có phải là đồng phạm hay không thì chúng ta thường dựa vào hai căn cứ chủ yếu đó là căn cứ khách quan và căn cứ chủ quan. Từ đó có thể phân tích và đưa ra kết luận một cách chính xác nhất có thể.
Căn cứ thứ nhất: Căn cứ vào những dấu hiệu khách quan.
Căn cứ vào yếu tố khách quan thì bao gồm số lượng người tham gia trong vụ án,căn cứ vào tính liên kết về hành vi cùng thực hiện một tội phạm, căn cứ vào hậu quả do vụ án đồng phạm gây ra.
Đầu tiên là căn cứ vào số lượng người trong vụ án: Thì ngay trong những quy định của điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì khi quy định về khái niệm đồng phạm đã nêu rõ rằng " đồng phạm là người hợp có hai người trở lên cùng cố ý thực hiện tội phạm" , những người này thì phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự , độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo như quy định của bộ luật Hình sự quy định.
Tiếp theo là dựa vào tính liên kết giữa các hành vi, theo đó thì nếu là đồng phạm thì những người trong vụ án phải đồng thời cùng nhau thực hiện một tội phạm, hành vi của những đồng phạm có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hành vi của người này liên hệ đến hành vi của người kia. Và những hành vi này phải hướng về một tội phạm, phải tạo điều kiện và hỗ trợ nhau thực hiện tội phạm một cách thuận lợi nhất có thể. Nói một cách dễ hiểu thì họ cùng nhau thực hiện một tội phạm, có sự phân công nhau. Hành vi của tất cả những người trong vụ án đồng phạm thì đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại chung của tội phạm.
Về hậu quả của hành vi phạm tội đồng phạm thì một vụ án đồng phạm thì hậu quả là kết quả chung của toàn bộ người đồng phạm gây ra. Theo đó thì hành vi của mỗi người trong vụ án đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả chung đấy. Mặc dù mỗi người đều tham gia với những vai trò vi trí khác nhay, có người trực tiếp có người lại tham gia gián tiếp. Nhưng những việc làm này lại có quan hệ nhân quả trong vụ án đồng phạm.
Căn cứ thứ hai: Căn cứ chủ quan
Nói đến căn cứ chủ quan trong vụ án đồng phạm thì chúng ta có thể hiểu rằng, những người đồng phạm trong vụ án đều có hình thức lỗi là cố ý, họ cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Tất cả những người tham gia phạm tội thì họ đều thấy trước được hành vi của mình và hành vi của người khác trong vụ án đồng phạm là nguy hiểm nhưng họ vẫn tiến hành thực hiện hành vi nguy hiểm đó. Bản thân những người đồng phạm họ đều ý thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội hoặc mỗi người đồng phạm đều thấy trước hậu quả nguy hiểm sẽ xảy ra cho xã hội.
Động cơ, mục đích: Với những tội quy định dấu hiệu động cơ mục đích là dấu hiệu bắt buộc thì đòi hỏi những người đồng phạm phải có cùng động cơ mục đích.
Trong căn cứ chủ quan thì những người đồng phạm phải phạm lỗi cố ý họ có sự chuẩn bị tính toán từ trước, nếu trong trường hợp mà bản thân người phạm tội vô ý và không có cùng mục đích động cơ trong phạm tội thì chưa có thể kết luận về đồng phạm.
Vậy, thì những vụ án thông thường có gì khác so với vụ án đồng phạm?
Điểm khác biệt mà có thể dễ dàng nhận thấy đó là về số lượng người phạm tội, thì vụ án có yếu tố đồng phạm có hai người trở lên, còn vụ án khác chỉ có một người thực hiện. Và nếu so sánh ở mức độ, tính chất thì những vụ án đồng phạm sẽ có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn rất nhiều so với vụ án thông thường bởi có sự giúp sức bởi nhiều người cùng tham gia phạm tội, những vụ án này thường đã được chuẩn bị rất kỹ càng từ trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Còn nếu so sánh về hình thức lỗi thì vụ án đồng phạm thì có hình thức lỗi sẽ là cố ý , vụ án thông thường thì có thể là lỗi vô ý hoặc cố ý. Hành vi của những người trong vụ án đồng phạm có sự liên kết chặt chẽ để cùng thực hiện một tội phạm, còn hành vi của người phạm tội đơn lẻ thì không liên kết với ai. Nếu nhìn dưới góc độ hậu quả tác hại thì trong vụ án đồng phạm thì hậu quả là chung, do toàn bộ những người đồng phạm gây ra còn hậu quả tác hại trong vụ án do một người thực hiện là hậu quả riêng do chính hành vi của người đó gây ra.
Trên đây là phần phân tích của chúng tôi về đồng phạm, căn cứ xác định đồng phạm, hi vọng rằng những nội dung mà chúng tôi phân tích đã giúp ích cho các bạn tìm hiểu và xác định vụ án đồng phạm. Ngoài ra các bạn còn có những thắc mắc có liên quan đến đồng phạm thì các bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tiếp 19006162 để được tư vấn hỗ trợ một cách nhanh chóng nhất có thể. Minh Khuê xin chân thành cảm ơn các bạn đã theo dõi nội dung của chúng tôi.