Tuỳ theo cách tiếp cận mà các học thuyết mới về thương mại quốc tế có thể chia thành các nhóm chính: học thuyết gắn với kinh tế quy mô, học thuyết liên quan đến sự biến đổi công nghệ, học thuyết liên quan đến cầu, học thuyết liên quan đến chi phí vận chuyển, học thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia.

 

1. Học thuyết găn với kinh tế quy mô

Học thuyết H - o được xây dựng dựa trên giả định các nước có quy mô tương đối giống nhau, không có nước nào được coi là nước nhỏ so với nước kia. Như vậy, học thuyết H - o giả định hoạt động sản xuất các mặt hàng được đặc trưng bởi hiệu suất không đổi theo quy mô. Tuy nhiên, trong điều kiện có sự giống nhau giữa các quốc gia về mức độ dồi dào các yếu tố và công nghệ sản xuất thì thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra khi hiệu suất tăng dần theo quy mô, nếu quốc gia này chuyên môn hóa một sản phẩm được lựa chọn và đổi lấy sản phẩm còn lại mà mình không chuyên môn hóa sản xuất của quốc gia kia. Trong đó, quá trình chuyên môn hóa có thể được hình thành một cách ngẫu nhiên, do lịch sử để lại hoặc do các công ti sản xuất lựa chọn địa điểm sản xuất phù hợp - để tận hưởng những chính sách ưu đãi của chính phủ nước sở tại... Khi thương mại quốc tế diễn ra giúp mở rộng thị trường, từ đó giúp các công ti cũng như người tiêu dùng trở thành một phần của thị trường rộng lớn hơn. Mỗi nước có thể tập trung vào sản xuất nhiều hơn một số sản phẩm khác biệt, rồi đem trao đổi lấy những sản phẩm khác biệt khác từ các nước bạn hàng. Kết quả là các nước tham gia buôn bán đều có lợi.

Người được ví là “cha đẻ” của trường phái “Học thuyết thương mại mới” - Paul Krugman (sinh năm 1953, người Mỹ), năm 1979 (khi mới 26 tuổi) đã đưa ra học thuyết mới về thương mại so với các học thuyết trước đó. Thuyết này giải thích quan hệ thương mại nội bộ ngành dựa trên lợi thế nhờ quy mô, theo đó việc sản xuất hên quy mô lớn làm giảm chi phí sản xuất, do quá trình chuyên môn hóa đưa lại. Trong học thuyết của mình, Paul Krugman dựa trên giả định người tiêu dùng quan tâm tới tính đa dạng sản phẩm.

Học thuyết của Paul Krugman giải thích tại sao trao đổi hai chiều vẫn có thể diễn ra giữa những nước mà hàng hóa của họ không phải mang tính bổ trợ nhau, mà lại là những hàng hóa tương tự nhau (thương mại nội ngành) với sự tương đồng nhau về công nghệ và nhân tố sản xuất. Ví dụ, trong ngành công nghiệp sản xuất xe ô tô, cả Nhật Bản và Mỹ đều có lợi thế về vốn và công nghệ, tuy nhiên, hãng Toyota của Nhật Bản tập trung vào thị trường xe dã ngoại (như Land Cruiser), trong khi hãng Ford của Mỹ lại chuyên sản xuất xe gia đình đi đường trường (như Escape). Cả hai sẽ có lợi hơn nếu từng bên tập trung vào chỉ một ngách hẹp mà nó đạt được hiệu quả cao nhất về quy mô. Và cùng bán ra những sản phẩm tương tự nhau, nhưng đáp ứng thị hiếu của những lóp người tiêu dùng khác nhau (thể hiện việc người tiêu dùng quan tâm tới tính đa dạng của sản phẩm trong cùng một ngành).

Việc giảm chi phí sản xuất nhờ quy mô, do quá trình chuyên môn hóa đưa lại có thể được thể hiện cụ thể hơn thông qua ví dụ về tổ chức sản xuất theo mạng lưới toàn cầu của các tập đoàn lớn. Ví dụ, trong tổ chức sản xuất theo mạng lưới toàn cầu của tập đoàn Toyota (Nhật Bản), các công ti con của Toyota được tổ chức theo chuyên môn hóa sản xuất. Mỗi đơn vị tập trung vào sản xuất chỉ một vài linh kiện, mà nó làm hiệu quả nhất. Như vỏ xe ô tô có thể được sản xuất bởi Toyota Motor Malaysia; lốp xe được cung cấp bởi Toyota Motor Thái Lan..., tuân theo cùng một tiêu chuẩn quốc tế của tập đoàn Toyota. Và những thiết bị này được xuất khẩu tới các công ti con khác, để rồi được ghép gộp lại thành sản phẩm của những dòng xe Toyota bán đi trên khắp các thị trường thế giới. Sự phối hợp như vậy hiệu quả hơn rất nhiều so với việc mỗi đơn vị của Toyota tự sản xuất ra mọi thiết bị mà nó cần.

Học thuyết của Paul Krugman được đánh giá là điểm sáng của kinh tế học hiện đại, khi có cách tiếp cận hoàn toàn mới so với các học thuyết cổ điển và tân cổ điển. Cùng với thời gian, sự khác biệt về trình độ công nghệ, vốn, kĩ thuật... của các nước công nghiệp phát triển đang dần được thu hẹp. Lợi thế so sánh trong nội bộ ngành công nghiệp thường không rõ rệt, do vậy, lợi thế kinh tế nhờ quy mô đã thúc đẩy quá trình thương mại quốc tế được tiến hành dưới dạng trao đổi hai chiều trong nội bộ các ngành, quá trình trao đổi thương mại hai chiều không chỉ mang tính bổ trợ nhau mà đó là những hàng hóa tương tự nhau, nhưng lại đáp ứng được thị hiếu của những người tiêu dùng khác nhau. Ngoài ra, thuyết này cũng đã chỉ ra, lợi thế quy mô của các công ti tổ chức sản xuất ở phạm vi toàn cầu cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thương mại quốc tế.

Kinh tế quy mô có thể gắn liền với tình trạng độc quyền và độc quyền nhóm khi một hoặc nhóm các công ti có thị trường tiêu thụ rộng, có khả năng mở rộng quy mô sản xuất ở nhiều nước, họ lớn mạnh lên và có khả năng thống trị một phần thị trường. Các công ti này, với quy mô đủ lớn của mình, có thể tác động đến mức giá trên thị trường (thường áp đặt ở mức giá cao) và thu lại lợi nhuận kinh tế cao. Quốc gia, nơi có công ti độc quyền tổ chức sản xuất, thường cũng thu được phúc lợi xã hội cao, khi giúp giải quyết việc làm cho người dân và thu được tiền thuế từ các công ti này. Do đó, chính phủ các nước thường đưa ra những chính sách có lợi nhằm thu hút và tác động đến quyết định lựa chọn địa điểm tổ chức sản xuất của công ti độc quyền tại chính quốc gia mình.

 

2. Học thuyết liên quan đến sự biến đổi công nghệ

Trong học thuyết của David Ricardo (nhà kinh tế học người Anh), thưong mại hình thành do có sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia. Sự khác biệt về năng suất lao động đó có thể là kết quả của sự khác biệt về công nghệ sản xuất. Còn mô hình thương mại của H - o, công nghệ được giả định là giống nhau giữa các quốc gia, tức công nghệ được xem xét ở trạng thái tĩnh.

về thực chất, các học thuyết thương mại liên quan đến công nghệ cũng theo đuổi cách tiếp cận của David Ricardo, nhưng điểm khác là trong các học thuyết đó sự khác biệt về công nghệ không phải là tĩnh, tồn tại mãi mãi, mà đó chỉ là hiện tượng tạm thời, gắn liền với một quá trình động và liên tục phát triển của thương mại quốc tế.

a) Thuyết khoảng cách công nghệ

Thuyết về khoảng cách công nghệ được Posner - nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ đưa ra vào năm 1961.

Thuyết này cho rằng, công nghệ luôn luôn thay đổi dưới hình thức ra đời các phát minh và sáng chế mới, và điều này tác động đến xuất khẩu của quốc gia. Sau khi một phát minh ra đời, một sản phẩm mới xuất hiện và trở thành mặt hàng có lợi thế tuyệt đối tạm thời đối với quốc gia phát minh. Ban đầu hãng phát minh có sản phẩm mới giữ vị trí độc quyền, và sản phẩm đó được tiêu thụ trên thị trường nội địa. Sau một thời gian, nhu càu từ phía nước ngoài xuất hiện và sản phẩm bắt đầu được xuất khẩu. Dần dần, các nhà sản xuất nước ngoài sẽ bắt chước công nghệ và sản phẩm được sản xuất ngay tại nước ngoài. Khi đó, lợi thế so sánh về sản xuất sản phẩm này lại thuộc về các quốc gia khác. Nhưng ở quốc gia phát minh một sản phẩm mới khác có thể ra đời và quá trình mô tả ở trôn được lặp lại. Lưu ý, trong mô hình này, sản phẩm chỉ được xuất khẩu nếu như thời gian cần thiết để sản phẩm được bắt chước ở nước ngoài dài hơn thời gian để xuất hiện nhu cầu về sản phẩm từ thị trường nước ngoài.

Ví dụ, Mỹ là quốc gia phát triển, xuất khẩu một lượng lớn các sản phẩm kĩ thuật cao và công nghệ chế tạo. Tuy nhiên, các nhà sản xuất nước ngoài cũng cần nhập khẩu công nghệ mới để có thể cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường trong nước và nước ngoài (kể cả Mỹ), do họ có chi phí về nhân công thấp. Trong lúc đó, các nhà sản xuất của Mỹ lại tung ra thị trường những sản phẩm và phương thức sản xuất mới hơn dựa trên sự cách biệt về trình độ công nghệ vừa mới hình thành.

Lý thuyết trên lý giải cho hai dạng thương mại:

Thứ nhất, nếu như cả hai đều có tiềm năng công nghệ như nhau, thì vẫn có thể hình thành quan hệ thương mại, bởi vì phát minh sáng chế trong chừng mực nào đó là một quá trình ngẫu nhiên. Vai trò tiên phong của một nước trong một lĩnh vực nào đó sẽ được đổi lại bởi vai trò tiên phong của nước kia trong lĩnh vực khác. Dạng thương mại này thường diễn ra giữa các nước công nghiệp phát triển.

Thứ hai, thương mại diễn ra ở các nước có trình độ phát triển khác nhau, khi một nước vượt trội hơn về công nghệ so với nước kia. Khi đó nước thứ nhất thường xuất khẩu những mặt hàng mới và phức tạp để đổi lấy những mặt hàng đã chuẩn hóa từ nước thứ hai. Dần dần, các mặt hàng mới này trở nên chuẩn hóa, nhưng nhờ sự ưu việt công nghệ nên nước thứ nhất lại cho ra đời các sản phẩm mới khác.

Đã có một số lý do được đưa ra lý giải cho hiện tượng một nước có thể tiến hành hoạt động nghiên cứu và triển khai tốt hơn các nước khác:

-    Sự khác biệt về thể chế, chẳng hạn công tác nghiên cứu và phát triển của một số nước có thể được khuyến khích bởi những bộ luật thích hợp về phát minh sáng chế, bản quyền, thuế...

-    Một số nước có thể may mắn có được những nguồn lực thích hợp cho công tác nghiên cứu và phát triển, như lực lượng hùng hậu các nhà khoa học và kĩ sư, nguồn tài chính dồi dào...

-    Tồn tại thị trường thích hợp với sản phẩm mới ngay trong nước. Thị trường đó thường có quy mô lớn và sức mua cao vì các sản phẩm mới thường được sản xuất với chi phí rất cao trong giai đoạn đầu.

Những lý do trên cho thấy, dường như các phát minh sáng chế thường ra đời ở các nước phát triển giàu có, các nước đang phát triển nếu có thì thường với số lượng ít.

b) Thuyết chu kỳ sống của sản phẩm

Thuyết do Raymond Vemon đưa ra năm 1966, sau đó được nhiều học giả phát triển và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của khoa học kinh tế.

về thực chất, thuyết chu kì sống của sản phẩm chính là sự mở rộng thuyết khoảng cách công nghệ. Các phát minh có thể ra đời ở các nước giàu có, nhưng điều đó không có nghĩa là quá trình sản xuất sẽ chỉ được thực hiện ở các nước đó mà thôi. Thuyết khoảng cách công nghệ chưa trả lời được câu hỏi: phải chăng các hãng phát minh sẽ tiến hành sản xuất các mặt hàng mới tại những nước có điều kiện thích hợp nhất (tài nguyên, các yếu tố sản xuất). Raymond Vemon đã đưa ra thuyết mói, theo đó các nhân tố cần thiết cho việc sản xuất một sản phẩm mới sẽ thay đổi tuỳ theo chu kì sống của sản phẩm đó.

Thuyết này cho rằng rất nhiều các sản phẩm trải qua một chu kì sống, bao gồm bốn giai đoạn: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái. Với mỗi giai đoạn trên của sản phẩm người ta sẽ xác định nó được sản xuất ở đâu:

-    Giai đoạn giới thiệu: Đây là thời kì sản phẩm mới được phát sinh, chi phí triển khai và phát triển sản phẩm cao, còn sản xuất độc quyền nên giá cao, sản lượng tiêu thụ ít, thưomg mại diễn ra chủ yếu ở nước công nghiệp phát minh ra sản phẩm;

-    Giai đoạn phát triển: Sản phẩm được hoàn thiện tại nước công nghiệp phát triển. Sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng mạnh, nhiều nhà sản xuất cùng sản xuất sản phẩm tưomg tự, cạnh tranh tăng; nhà sản xuất lúc đầu xuất khẩu sản phẩm, sau tìm cách di chuyển địa điểm sản xuất sang quốc gia có cùng mức sống và gần gũi về văn hóa;

-    Giai đoạn chín muồi: Sản phẩm bị cạnh tranh mạnh, giá thành giảm, thị phần giảm, lãi giảm. Sau khi cải tiến, thay đổi về mẫu mã, kiểu dáng, nhà sản xuất tìm mọi cách giới thiệu, phát triển thị trường, sau đó di chuyển địa điểm sản xuất sang nước kém phát triển hơn, nơi có chi phí đầu vào thấp hơn (như giá nhân công thấp...). Sản xuất ở nước phát minh ra sản phẩm giai đoạn này bắt đầu sụt giảm. Cạnh tranh về nhãn hiệu (thương hiệu) được thay thế bằng cạnh tranh về giá;

- Giai đoạn suy thoái: Sản phẩm chủ yếu chỉ còn tại thị trường các nước đang phát triển. Nhu cầu về sản phẩm trong nước phát minh được đáp ứng bởi nhập khẩu từ các nước đang phát triển và công nghiệp phát triển khác, do đó trong giai đoạn này, có thể xảy ra hiện tượng “xuất khẩu ngược” từ chính các nước bắt chước công nghệ sang nước phát minh. Đây cũng chính là giai đoạn các nước công nghiệp chấm dứt sản xuất sản phẩm cũ trong nước và tập trung phát triển công nghệ mới cùng với việc phát minh ra sản phẩm mới.

Raymond Vemon - nhà kinh tế học người Mỹ (1913 - 1999) xây dựng thuyết của mình trong bối cảnh phần lớn các sản phẩm mới trên thế giới được phát minh ra và bán tại Mỹ. Một nguyên nhân cơ bản dẫn đến vị thế thống trị của các công ti Mỹ trên phạm vi toàn cầu vào những năm 60 của thế kỉ XX là việc các ngành công nghiệp của Mỹ không bị tàn phá trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Như vậy, thuyết này giải thích tương đối rõ cơ cấu thương mại quốc tế khi Mỹ còn đóng vai trò thống trị thương mại thế giới. Nhưng hiện nay thì khả năng thống trị về kinh tế của Mỹ đã yếu đi nhiều, Mỹ không còn là quốc gia duy nhất phát minh ra các sản phẩm mới trên thế giới. Các sản phẩm mới dường như có thể xuất hiện bất kì nơi nào, khi các công ti tiếp tục toàn cầu hóa các hoạt động nghiên cứu và triển khai.

Bên cạnh đó, ngày nay các công ti thiết kế sản phẩm mới và thực hiện việc cải tiến sản phẩm rất nhanh chóng. Ket quả là sản phẩm nhanh chóng bị lạc hậu và các công ti tự làm lạc hậu các sản phẩm hiện tại của mình bằng các sản phẩm mới. Điều này buộc các công ti phải đồng thời đưa sản phẩm của mình tới nhiều thị trường khác nhau để có thể nhanh chóng bù đắp chi phí nghiên cứu và triển khai trước khi lượng bán bắt đầu giảm xuống. Thuyết chu kì sống của sản phẩm không thể giải thích được quan hệ thương mại trong trường họp này.

Ngoài ra, thuyết chu kì sống của sản phẩm còn bị thách thức bởi một thực tế, đó là ngày càng có nhiều công ti khởi đầu hoạt động kinh doanh của mình bằng các giao dịch trên thị trường thế giới. Nhiều công ti nhỏ cùng liên kết với các công ti trên các thị trường khác nhau để phát triển các sản phẩm mới hoặc công nghệ sản xuất mới. Chiến lược này tỏ ra đặc biệt có hiệu quả đối với các công ti nhỏ, và đây là cách để các công ti này có thể tham gia được vào quá trình sản xuất và tiêu thụ quốc tế.

 

3. Thuyết thương mại liên quan đến cầu

Các thuyết được đề cập đến ở trên đều nhấn mạnh tới yếu tố cung. Tuy nhiên, sự khác biệt về cầu cũng là cơ sở quan trọng dẫn tới thương mại quốc tế, đặc biệt là nền thương mại quốc tế hiện đại.

Có hai hướng tiếp cận được đưa ra khi giải thích thương mại quốc tế liên quan đến cầu:

Thứ nhất, quan hệ thương mại giữa các nước được giải thích khi có sự đa dạng về nhu cầu của các loại sản phẩm. Một nước không nên và cũng không thể tự sản xuất tất cả các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Mà cách thức hiệu quả nhất, đó là các nước sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mình có lợi thế, và nhập về những sản phẩm bất lợi hoặc ít có lợi hơn trong sản xuất. Cách tiếp cận này có thể được giải thích bởi thuyết của David Ricardo hay thuyết H - o.

Thứ hai, quan hệ thương mại quốc tế còn diễn ra bởi thương mại nội ngành. Đây là hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời các sản phẩm về cơ bản là giống nhau (tương tự). Chẳng hạn, Nhật Bản xuất khẩu ô tô sang Mỹ, đồng thời cũng nhập khẩu ô tô từ Mỹ. Đe giải thích cho thương mại quốc tế nội ngành, vào năm 1961, nhà kinh tế học Linder người Thụy Điển đã đưa ra lý thuyết Linder.

Lý thuyết Linder

Thuyết cho rằng yếu tố quan trọng dẫn đến thương mại quốc tế nội ngành là sự tương đồng về sở thích và mức thu nhập của các quốc gia. Thông thường thì những nhà sản xuất trong nước có khả năng cạnh hanh cao trên thị trường nội địa, vì đây là thị trường quen thuộc, hơn nữa khi tổ chức sản xuất trong nước họ không phải trả cước phí vận chuyển và thuế quan. Để tối đa hóa lợi nhuận, các nhà sản xuất nội địa sẽ chọn những sản phẩm có thị phần lớn nhất, đáp ứng sở thích của người tiêu dùng trong nước. Ban đầu sản phẩm được làm ra chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường trong nước, đến một thời điểm nhất định, nhu cầu đối với sản phẩm đó từ thị trường bên ngoài sẽ xuất hiện và sản phẩm bắt đầu được xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu sẽ là những quốc gia, nơi có sở thích và mức thu nhập tương tự như ở quốc gia xuất khẩu.

Mức thu nhập giữa các quốc gia càng giống nhau thì càng có nhiều cơ hội để mở rộng thương mại nội ngành giữa các quốc gia đó với nhau.

Thuyết của Linder chỉ được áp dụng đối với thương mại hàng chế tạo. Còn thương mại hàng nguyên liệu thô, sơ chế vẫn chủ yếu được giải thích bởi thuyết H - o. Thuyết Linder có thể lý giải phần lớn thương mại quốc tế mang tính nội ngành và được tiến hành giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế có thể kể ra nhiều trường hợp ngoại lệ đối với thuyết này, chẳng hạn những nước không theo đạo Thiên chúa như Nhật Bản, Hàn Quốc lại là những nước xuất khẩu sản phẩm cây thông Noen nhân tạo (đây là mặt hàng không được tiêu dùng ở thị trường trong nước).

 

4. Thuyết thương mại liên quan đến chi phí vận chuyển

Các thuyết thương mại quốc tế được đề cập trước đây đều đưa ra giả định chi phí vận chuyển bằng 0. Tuy nhiên, phần này sẽ tính đến chi phí vận chuyển tác động tới thương mại quốc tế giữa các quốc gia thông qua: tác động trực tiếp đến giá của sản phẩm, và tác động gián tiếp vào phân bổ sản xuất trên quy mô quốc tế.

Chi phí vận chuyển ở đây được hiểu là tất cả các chi phí bỏ ra để chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác. Như vậy, chi phí vận chuyển sẽ bao gồm: cước phí vận tải, cước bốc, xếp, dỡ hàng hóa.

Khi tính đến chi phí vận chuyển, sẽ khiến cho giá bán giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu chênh nhau (cụ thể là giá bán tại nước nhập khẩu sẽ tăng lên so với giá bán mặt hàng đó tại nước xuất khẩu); mức chênh lệch giá này phải lớn hơn chi phí vận chuyển thì mới có thể diễn ra hoạt động trao đổi hàng hóa quốc tế. Chi phí vận chuyển khiến người tiêu dùng nước ngoài phải mua hàng hóa với giá cao hơn mức giá ban đầu của hàng hóa khi bán tại thị trường nội địa, và làm giảm lợi ích từ thương mại quốc tế.

Chi phí vận chuyển cũng tác động gián tiếp tới thương mại quốc tế thông qua việc phân bổ lại vị trí sản xuất của các ngành, theo hai hướng: nguồn lực đầu vào cho quá trình sản xuất và thị trường đầu ra cho sản phẩm.

Một số ngành cần đặt gần với nguồn nguyên liệu đầu vào đế giảm chi phí vận chuyển, ví dụ ngành khai khoáng phải có các nhà máy đặt gần các khu mỏ. Những ngành định hướng theo nguồn lực đầu vào thường là những ngành mà chi phí vận chuyển nguyên liệu thô cho sản xuất cao hơn nhiều so với chi phí vận chuyển sản phẩm cuối cùng của ngành tới thị trường tiêu thụ.

Tuy nhiên, đối với một số ngành khác, các doanh nghiệp trong ngành thường đặt gần thị trường tiêu thụ sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp; hoặc đặt gần các sân bay, bến cảng để thuận tiện cho quá trình vận chuyển hay xuất khẩu sản phẩm. Những ngành có sản phẩm cuối cùng tải trọng nặng hoặc khó khăn trong vận chuyển càng cần đặt địa điểm gần nơi tiêu thụ. Ví dụ, trong những năm vừa qua, hàng nghìn công ti của Mỹ đã đầu tư hàng triệu USD vào Mexico tại các khu công nghiệp Maquiladoras (Maquiladoras khởi sinh từ thập niên 1960 của thế kỉ XX và phát triển mạnh dần. Đến năm 1985, Maquiladoras đã là nguồn thu nhập lớn thứ nhi sau dầu hỏa tại Mexico. Tính đến cuối thế kỉ XX thì các xưởng Maquiladoras đã đóng góp 25% vào tổng sàn phẩm quốc nội và đáp ứng 17% việc làm cho nhân công Mexico. Tuy vậy phần lớn số tiền lời của Maquiladoras cũng “hồi hương” về Mỹ. Sang thời kì toàn cầu hóa, các công xưởng bên Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) xuất hiện ngày một nhiều, các Maquiladoras bị cạnh tranh gay gắt, nên số lượng đã giảm khá nhiều. Dù vậy dọc biên giới 3.600 km Mỹ - Mexico vẫn còn hơn 3.000 Maquiladoras với hơn một triệu nhân công) dọc theo biên giới của Mỹ. Các khu Maquiladoras đã thu hút hơn 500 nghìn công nhân Mexico đến làm việc tại các nhà máy lắp ráp mà Mỹ đàu tư, các sản phẩm sau khi được lắp ráp sẽ quay lại thị trường Mỹ. Các công ti Mỹ đặt nhà máy tại đây nhằm khai thác chi phí nhân công rẻ (giá nhân công chỉ bằng khoảng 1/6 giá nhân công tại Mỹ), và đặc biệt là giảm thiểu tối đa chi phí vận chuyển ngược lại thị trường Mỹ.

 

5. Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter

Thuyết lợi thế cạnh hanh quốc gia do Michael Porter (Michael Porter, sinh ngày 23/5/1947, là giáo sư của Đại học Harvard, Mỹ; Ông là nhà tư tưởng chiến lược và là một trong những “bộ óc” quản trị có ảnh hưởng nhất thế giới; là chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của thế giới; là cố vấn trong lĩnh vực cạnh tranh cho lãnh đạo nhiều nước như Mỹ, Ireland, Nga, Singapore, Anh), giáo sư của Đại học Harvard (Mỹ) đưa ra vào năm 1990, đây là công trình nghiên cứu của một tập thể các nhà khoa học ở 12 nước bắt đầu từ năm 1986, với tổng cộng các ngành được nghiên cứu lên tới con số hàng trăm. Mục đích của thuyết là giải thích tại sao một số quốc gia lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói cách khác, tại sao lại có những quốc gia có khả năng cạnh tranh cao về một số sản phẩm. Ví dụ, tại sao Nhật Bản rất nổi tiếng trong ngành sản xuất ô tô? Tại sao Thụy Sỹ nổi tiếng trong sản xuất và xuất khẩu các thiết bị chính xác và các loại dược phẩm? Tại sao Đức và Mỹ làm rất tốt trong ngành công nghiệp hóa chất?

a. Nội dung của học thuyết

Thuyết này được xây dựng trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó. Và điều này được khái quát hóa cho một thực thể lớn hơn - một quốc gia. Học thuyết của M. Porter đã kết hợp được các cách giải thích khác nhau trong các học thuyết của thương mại quốc tế trước đó và đồng thời đã đưa ra một cách tiếp cận rất quan trọng - khả năng cạnh tranh quốc gia.

Theo thuyết này, khả năng cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của bốn nhóm yếu tố. Mối liên kết của bốn nhóm tạo thành mô hình có tên là mô hình kim cương (mô hình mô phỏng cấu trúc tinh thể kim cương có độ bền cao để chỉ khả năng chịu đựng của một quốc gia trước môi trường cạnh tranh gay gắt). Bốn nhóm yếu tố bao gồm: điều kiện về các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành. Cả bốn nhóm yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh của một quốc gia. Ngoài bốn yếu tố trên, còn có hai yếu tố rất quan trọng, đó là yếu tố tác động của chính phủ và cơ hội kinh doanh. Đây là yếu tố có thể chi phối cả bốn nhóm yếu tố cơ bản kể trên.

Hình 2.1. “Mô hình kim cương” về các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia

Nguồn: Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2013), Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, trang 168.

Điều kiện về các yếu to sản xuất:

Điều kiện về các yếu tố sản xuất được quan niệm ở đây là những yếu tố cần thiết (không phải là “đầu ra”) để cạnh tranh trong một ngành công nghiệp như: nguồn lao động, nguồn đất có thể sử dụng, nguồn tài nguyên tự nhiên, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng... Các yếu tố sản xuất được phàn loại thành hai nhóm: nhóm các yếu tố cơ bản và nhóm các yếu tố tiên tiến.

Nhóm các yếu tố cơ bản bao gồm: Nguồn tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa lý, nguồn lao động chưa qua đào tạo hoặc đào tạo đơn giản và nguồn vốn. Đây là nhóm yếu tố được coi là nền tảng của những học thuyết thương mại trước đây (điển hình là thuyết H - O). Nhưng chính vì quá dựa vào nhóm yếu tố này, mà các thuyết thương mại trước đây đã bộc lộ những hạn chế trong điều kiện mới.

Nhóm các yếu tố tiên tiến (các yếu tố chuyên sâu) bao gồm: Cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc viễn thông kĩ thuật số hiện đại; nguồn nhân lực chất lượng cao như các kĩ thuật viên được đào tạo đầy đủ, những lập trình viên máy tính hoặc những nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực chuyên môn; các thiết bị nghiên cứu hay bí quyết công nghệ.

Trong hai nhóm yếu tố frên, M. Porter chú trọng và đề cao nhóm yếu tố thứ hai và coi đây là nhóm yếu tố cốt lõi, quyết định đến khả năng cạnh tranh quốc gia. Ông cho rằng, không giống như các yếu tố cơ bản được ưu đãi một cách tự nhiên, các yếu tố tiên tiến lại là sản phẩm của sự đầu tư của các cá nhân, các công ti và của chính phủ. Do vậy, các khoản đầu tư của chính phủ vào đào tạo cơ bản và nâng cao, bằng cách cải thiện trình độ kiến thức và kĩ năng chung của dân chúng cũng như kích thích nghiên cứu tiên tiến tại các cơ sở giáo dục cấp cao, có thể giúp nâng cấp các yếu tố tiên tiến của một nước.

Mối quan hệ giữa các yếu tố tiên tiến và cơ bản là mối quan hệ phức hợp. Các nhân tố cơ bản có thể cung cấp lợi thế ban đầu mà sau đó sẽ được củng cố và mở rộng thông qua đầu tư vào các yếu tố tiên tiến. Ngược lại, bất lợi về các yếu tố cơ bản cố thể tạo ra những áp lực phải đầu tư vào các yếu tố tiên tiến. Một ví dụ rõ ràng nhất về hiện tượng này là về Nhật Bản, một nước không có nhiều đất trồng trọt và các nguồn khoáng sản, tuy nhiên thông qua đầu tư đã tạo lập được rất lớn các yếu tố tiên tiến. Porter lưu ý rằng, đội ngũ kĩ sư lành nghề đông đảo ở Nhật Bản (phản ánh thông qua tỉ lệ số lượng người tốt nghiệp có bằng kĩ sư trên bình quân đầu người hon hẳn bất kì nước nào) là nhân tố chủ chốt dẫn tới sự thành công của Nhật Bản trong nhiều ngành công nghiệp chế tạo.

Các điều kiện về cầu:

Điều kiện về cầu được thể hiện trực tiếp ở tiềm năng của thị trường đối với sản phẩm của ngành. Thị trường là nơi quyết định cao nhất tới sự cạnh tranh của một quốc gia.

Mô hình kim cương của Porter nhấn mạnh tới vai trò của cầu trong nước trong việc giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Thông thường, các công ti thường tỏ ra nhạy cảm nhất với những nhu cầu của những khách hàng ở gần với họ nhất. Do đó, những đặc điểm của nhu cầu thị trường trong nước đặc biệt quan trọng trong việc định hình các thuộc tính của các sản phẩm được chế tạo trong nước và trong việc tạo ra sức ép cho sự sáng tạo đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm. Porter lập luận rằng các công ti của một nước giành được lợi thế cạnh tranh nếu những người tiêu dùng trong nước của họ có được sự sành sỏi và đòi hỏi cao. Những người tiêu dùng như vậy sẽ tạo ra một sức ép lên các công ti trong nước phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao về chất lượng sản phẩm cũng như phải sản xuất ra những mẫu mã sản phẩm mới. Một ví dụ về khía cạnh này đó là sự phát triển trong ngành thiết bị liên lạc không dây. Theo nghiên cứu của Porter, chính sự sành sỏi và yêu cầu cao của những người tiêu dùng tại khu vực bán đảo Scandinavia đã giúp thúc đẩy hãng Nokia của Phần Lan và Erricson của Thụy Điển phải đầu tư vào công nghệ điện thoại di động từ rất lâu trước khi nhu cầu về điện thoại này xuất hiện tại các nước phát triển khác.

Tuy nhiên, thực tế thương mại cho thấy, không phải trong tất cả các trường hợp cầu trong nước quyết định đến khả năng cạnh tranh của một ngành hay công ti trên thị trường cả trong và ngoài nước, mà yếu tố quyết định là khả năng đổi mới và đáp ứng của công ti đối với các yếu tố của thị trường nước ngoài sẽ giúp cho công ti đứng vững trên thị trường quốc tế. Nguyên nhân của sự sai lệch này trong cách nhìn của Porter là do ông tập trung nghiên cứu và lấy ví dụ tại các nước phát triển, nơi có mức độ cạnh tranh rất cao, và các nước này có xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế trong nước nên không có sự khác biệt nhiều giữa thị trường nội địa và thị trường nước ngoài.

Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan:

Khả năng cạnh tranh của một công ti, một ngành hay cả một nước phụ thuộc vào các ngành công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp liên quan vì các công ti không thể tồn tại tách biệt đối với các công ti khác trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan chủ yếu là các ngành cung cấp các yếu tố đầu vào cho một hoặc nhiều ngành khác. Khi một ngành phát triển sẽ dẫn tới sự liên kết với các ngành khác theo cả chiều dọc và chiều ngang. Ví dụ, sức mạnh của Thụy Điển trong các sản phẩm thép chế biến (như vòng bi và dụng cụ cắt gọt) đã dựa trên sức mạnh của nước này trong ngành công nghiệp thép đặc biệt. Năng lực dẫn đầu về công nghệ ưong ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ đã cung cấp nền tảng cho sự thành công của Mỹ trong chế tạo máy vi tính cá nhân và một số sản phẩm điện tử công nghệ cao khác.

Một kết quả của quá trình liên kết này là các ngành trong phạm vi một quốc gia có xu hướng tập hợp với nhau thành các cụm gồm các ngành có liên quan và hỗ trợ. Đây là một trong những kết quả có tính lan tỏa đáng chú ý nhất trong nghiên cứu của M. Porter. Khi hình thành cụm như vậy, quá trình trao đổi thông tin sẽ diễn ra mạnh hơn giữa các công ti trong cụm, các hoạt động phối hợp nghiên cứu triển khai, phối hợp giải quyết vấn đề sẽ giúp các công ti tăng khả năng thích ứng vói cơ hội và các vấn đề - thực chất đây là quá trình giúp tăng khả năng cạnh tranh về lâu dài cho các công ti. Một trong những cụm mà Porter đã xác định được đó là ngành dệt may của Đức. Ngành này bao gồm các ngành chế biến bông, len, sợi tổng họp chất lượng cao, máy khâu, và một loạt các máy móc liên quan tới ngành dệt.

Chiến lược, cơ cẩu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành:

Chiến lược của công ti có ảnh hưởng lâu dài đến khả năng cạnh tranh của công ti trong tương lai; nó chi phối đến hoạt động đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và thị trường của từng công ti và thậm chí là cả ngành. Khả năng cạnh tranh quốc gia là kết quả của sự kết hợp hợp lý giữa các nguồn lực có sức cạnh tranh đối với mỗi ngành công nghiệp cụ thể.

Ngoài chiến lược phát triển, cơ cấu của một ngành công nghiệp cũng quyết định rất lớn đến khả năng cạnh tranh của toàn ngành. Cơ cấu của các ngành công nghiệp sẽ liên quan đến các ngành mũi nhọn, các ngành được ưu tiên, mức độ liên hệ và hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành để phục vụ cho một mục tiêu nhất định. Cơ cấu của ngành công nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả của toàn ngành.

Bên cạnh đó, cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các công ti trong một nước càng gay gắt, thì khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ti đó càng cao. Đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành tạo ra sức ép lẫn nhau đối với việc cải tiến, sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá câ, giảm chi phí và đầu tư vào việc nâng cấp các yếu tố tiên tiến. Điều này kích thích hoạt động đổi mới để vượt qua mối lo ngại bị tụt hậu, tạo ra sức mạnh cạnh tranh ở tầm quốc tế cho các công ti. Porter trích dẫn trường hợp của Nhật Bản, không ở đâu vai trò của các đối thủ cạnh tranh trong nước lại rõ rệt như tại Nhật Bản. Các công ti của Nhật Bản không ngừng nỗ lực để cạnh tranh chiếm thị phần trong nước. Việc cạnh tranh trong nước, với thị hiếu rất khắt khe của chính người Nhật Bản, đã giúp các công ti tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, có chiến lược cạnh tranh hữu hiệu, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường nước ngoài.

Ngoài bốn nhóm yếu tố kể trên, như đã đề cập, cơ hội và vai trò của chính phủ cũng là những yếu tố tác động rất quan trọng đến khả năng cạnh tranh. Các cơ hội thường tạo ra những thay đổi đột ngột và làm thay đổi vị thế cạnh tranh. Các cơ hội có thể làm vô hiệu hóa các lợi thế của các đối thủ cạnh tranh được hình thành trước đó và tạo ra tiềm năng cho các công ti của một quốc gia mới, khi có các điều kiện mới và khác trước. Chẳng hạn, việc phát minh ra các chùm vi điện tử đã tạo điều kiện cho Nhật Bản đạt được lợi thế cạnh tranh cân bằng với Đức và Mỹ. Việc gia tăng nhu cầu về tàu thuỷ đã tạo điều kiện cho Hàn Quốc gia nhập vào ngành công nghiệp tàu thuỷ, có khả năng cạnh tranh với Nhật Bản. Bên cạnh yểu tố cơ hội, chính phủ còn có thể thông qua các chính sách của mình (tỉ giá hối đoái, lãi suất, ừợ cấp, thuế và các công cụ khác) để tác động đến các ngành công nghiệp. Các ngành này có thể được khuyến khích hoặc hạn chế phát triển trong một giai đoạn, tuỳ theo mục tiêu đề ra của chính phủ trong giai đoạn đó, từ đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành này trên thị trường trong nước và quốc tế. Chẳng hạn, Chính phủ Trung Quốc (những năm 2000) có chính sách khuyến khích xuất khẩu thông qua các biện pháp như phá giá đồng nội tệ, thành lập các trung tâm xúc tiến thương mại, thành lập các khu công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu, tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO - năm 2001), kí kết FTA với ASEAN (CAFTA - năm 2004)... đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường thế giới. Hiện tại, Trung Quốc được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”, là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới (Theo Therichest.com, website nổi tiếng của Mỹ, chuyên tổng hợp những nội dung độc đáo, kì lạ trên thế giới). Theo số liệu từ Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và việc làm, tỉ trọng của Trung Quốc bong tổng hàng xuất khẩu toàn cầu đã tăng lên gần 14% trong năm 2015, từ hơn 12% trong năm 2014, và là mức cao nhất một quốc gia từng ghi nhận kể từ khi Mỹ chiếm vị trí dẫn đầu vào năm 1968.

b. Đánh giá học thuyết

Thuyết cạnh tranh quốc gia của M. Porter đứng trên quan điểm quản trị ngành, tức ông coi khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của ngành và cụ thể hơn nữa là cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành. Không có một nước nào lại có khả năng hơn một nước khác, chỉ có doanh nghiệp nước này có khả năng cạnh tranh cao hơn doanh nghiệp nước khác. Đây là quan điểm được đánh giá phù hợp thực tế. Như vậy, thuyết của M. Porter có sự gắn kết các cấp độ doanh nghiệp, ngành công nghiệp và các quốc gia, trong khi các học thuyết khác chỉ đề cập đến một hoặc hai cấp độ. Học thuyết có giá trị cao đối với các chính phủ trong việc xây dựng chiến lược phát triển ngành, phát triển cụm công nghiệp.

Thuyết này đã đưa ra một cách giải thích mới về các yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh quốc gia. Nếu như ở thuyết H - o, mặc dù cũng đề cập đến sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia, nhưng mới chỉ giới hạn ở nhóm các yếu tố cơ bản được đề cập trong thuyết của M. Porter, về khía cạnh này, M. Porter đi xa hơn khi khẳng định rằng chính các yếu tố tiên tiến mới đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, và cao hơn là lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Thuyết đưa ra mô hình xem xét khả năng cạnh tranh quốc gia dưới trạng thái động, nghĩa là khả năng này có thể thay đổi theo thời gian. Thuyết có giá trị trong việc định hướng xây dựng chính sách cạnh tranh của các chính phủ và việc hoạch định chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhìn vào mô hình để đánh giá vị trí của doanh nghiệp trong một ngành, xem xét tiềm năng thị trường, các mối liên hệ bên trong một nhóm ngành, cơ cấu ngành, các yếu tố sản xuất, chính sách của chính phủ và cơ hội kinh doanh để xây dựng chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn, xác định đúng đắn các khâu trọng yếu để tập trung đầu tư, hay điều chỉnh hợp lý. Các chính phủ nên có các chính sách hỗ trợ để cải thiện khả năng cạnh tranh của các ngành không có hoặc khả năng cạnh tranh thấp, và khuyến khích phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh cao.

Tuy nhiên, thuyết còn hạn chế, đó là nhấn mạnh vai trò của cầu trong nước đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, nhấn mạnh vai trò của ngành hỗ trợ. Trong khi trên thực tế, nhiều trường hợp cho thấy yếu tố bên ngoài lại đóng vai trò quan trọng, thậm chí là quyết định đối với sự phát triển của những ngành công nghiệp ở nhiều nước. Ví dụ, ngay tại Nhật Bản - trường họp được cho là điển hình để kiểm chứng thuyết của M. Porter, thì ngành sản xuất thép vẫn rất phát triển cho dù nguyên liệu đầu vào từ thiên nhiên hầu như phải nhập khẩu, hay Mazda không nổi tiếng tại thị trường Nhật Bản nhưng lại rất thành công trên thị trường nước ngoài thậm chí cả thị trường Mỹ. Hoặc ngành công nghiệp phần mềm của Ấn Độ, với nhu cầu thị trường trong nước không lớn, sự trồi dậy của ngành này được coi là bắt nguồn từ nhu cầu lớn từ thị trường nước ngoài.

Bên cạnh đó, thuyết này cũng bị phê phán: chưa đề cập được các yếu tố chi phối đén khả năng cạnh tranh quốc gia một cách toàn diện, do không đưa ra được các yếu tố quốc tế vào mô hình, chẳng hạn như không đề cập đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trên thực tế, đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh quốc gia.

Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 1999, các yếu tố chi phối và đánh giá khả năng cạnh tranh quốc gia đã được làm rõ hơn thông qua một hệ thống 8 chỉ tiêu: Độ mở của nền kinh tế, vai trò và hiệu lực của chính phủ, sự phát triển của hệ thống tài chính - tiền tệ, trình độ phát triển của công nghệ, trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, trình độ quản lý của doanh nghiệp, số lượng và chất lượng của lao động, trình độ phát triển của thể chế bao gồm hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Ngoài ra, một số nước tuỳ điều kiện của mình mà sử dụng các chỉ tiêu khác nhau để đánh giá khả năng cạnh tranh. Chẳng hạn, có nước lại sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu như lợi thế so sánh hiện hữu (đây là tỉ số giữa tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của một mặt hàng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia và tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đó của toàn thế giới trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới. Nếu tỉ số này lớn hơn 1, thì mặt hàng đó có lợi thế so sánh; và nếu tỉ số nhỏ hơn 1, thì mặt hàng đó không có lợi thế so sánh), chi phí nguồn lực dong nước...

Mặt khác, cũng có quan điểm cho rằng thể hiện tập trung và trực tiếp nhất về khả năng cạnh tranh là khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Các chính sách của chính phủ, cơ hội kinh doanh hoặc các yếu tố khác, suy cho cùng sẽ tác động đến doanh nghiệp mà trực tiếp là sản phẩm và dịch vụ của nó.

 

6. Nhận xét chung về các học thuyết mới về thương mại quốc tế

Khoảng từ giữa thế kỉ XX trở đi, sự ra đời của một loạt các học thuyết mới về thương mại quốc tế, cùng các học thuyết truyền thống đã giúp cho việc giải thích nguyên nhân, cơ cấu, lợi ích của thương mại quốc tế trở nên đầy đủ và sát thực tế hơn. Khác với học thuyết tân cổ điển (thuyết H - O), theo đó sự khác biệt tương đối về các nguồn lực ở các nước là nguyên nhân cơ bản dẫn đến thương mại quốc tế, các học thuyết mới lại nhấn mạnh kinh tế quy mô, nhu cầu của thị trường, quá trình biển đổi liên tục của công nghệ, hay chi phí vận chuyển... như là những yếu tố quan trọng giải thích thực tiễn thương mại quốc tế hiện đại.

Các học thuyết mới đặc biệt giải thích được quan hệ thương mại giữa các nước công nghiệp phát triển - những nước được coi là tương đối giống nhau về tổ hợp các nguồn lực và bộ phận chủ yếu trong thương mại quốc tế là thương mại nội bộ ngành. Sự ra đời của các học thuyết mới còn dẫn đến cách nhìn nhận mới về lợi thế so sánh. Cụ thể, thuyết chu kì sống của sản phẩm cho thấy lợi thế so sánh không chỉ mang tính chất tĩnh, cố định, bất biến như trong các học thuyết truyền thống, mà nó có thể thường xuyên thay đổi. Thực tiễn phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã minh chứng cho tầm quan trọng của việc tạo lập và khai thác lợi thế so sánh động, gắn kết kinh tế quốc gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế.

Một đóng góp quan trọng nữa của các học thuyết mới về thương mại quốc tế, đó là các học thuyết này đề cập, giải thích nguồn gốc dẫn đến thương mại quốc tế từ góc độ vi mô (các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp) hơn là từ sự khác biệt giữa các quốc gia. Đây là cách tiếp cận thực tế, vì suy cho cùng, không phải là quốc gia, mà là các doanh nghiệp mới là những chủ thể trực tiếp tiến hành các giao dịch xuất nhập khẩu.

Trong số các học thuyết mới về thương mại quốc tế, thuyết lợi thế cạnh tranh của M. Porter dành được sự chú ý đặc biệt. Có thể nói đây là thuyết đầu tiên cố gắng kết nối nhiều yếu tố, nhiều cấp độ trong việc giải thích sự hình thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, từ đó góp phần làm rõ nguồn gốc, cơ cấu của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, thuyết cần có thời gian để kiểm chứng giá trị thực tế. Và với những hạn chế còn tồn tại, đòi hỏi cần có các học thuyết tiếp theo ra đời để giải thích đầy đủ hơn nữa các yếu tố của thương mại quốc tế hiện đại.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích từ các nguồn trên internet)