Luật sư tư vấn:
Vấn đề Bạn quan tâm, Luật Minh Khuê xin được trao đổi như sau:
Vụ án: Quyết định Giám đốc thẩm số 14/2015/ KDTM ngày 21/5/2015, Tòa án nhân dân tối cao về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa ngân hàng thương mại cổ phần ĐA (nguyên đơn) và ông Nguyễn Vũ A (bị đơn)
Tóm tắt nội dung vụ án:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 17/11/2010 của nguyên đơn là ngân hàng thương mại cổ phần ĐA và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA - Phòng giao dịch TP (sau đây gọi tắt là Ngân hàng ĐA) cho ông Nguyễn Vũ A và bà Đinh Thị Thu Th vay 450.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số TD08/0031/ThP ngày 29/01/2008 để mua xe tải; thời hạn vay là 60 tháng, kể từ ngày 29/01/2008 đến ngày 29/01/2013; lãi suất cho vay cố định là 1,22%/ tháng; hoặc lãi suất được điều chỉnh hàng năm bắt đầu vào ngày 01/01/2009 theo phương thức: bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng bậc cao nhất của Ngân hàng ĐA + 0,45%/ tháng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; phí trả lãi chậm là 0,5%/ngày; phương thức trả nợ: Trả dần gốc 15.000.000 đồng/3 tháng, trả lãi hàng tháng đều vào ngày 29 hàng tháng...
Tài sản bảo đảm cho khoản vay này bao gồm: i) Quyền sử dụng 81m2 đất thuộc thửa đất số 94-4 Tờ bản đồ số 9A và tài sản gắn liền với đất (nhà có diện tích 64m2) ... theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn Kền với đất của người thứ ba số ThP07/0259/HĐBĐ ngày 27/9/2007. Tài sản này bảo đảm cho số tiền vay là 200.000.000 đồng/450.000.000 đồng và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 04/10/2007; h) Quyền sử dụng 57,6m2 đất thuộc thửa đất số 181, Tờ bản đồ số 9 và tài sản gắn liền với đất (nhà có diện tích 51,5m2)... theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người thứ ba số ThP08/020/HĐBĐ ngày 21/01/2008. Tài sản này có giá trị 280.000.000 đồng. Trong hợp đồng không ghi bảo đảm cho khoản vay là bao nhiêu mà chỉ ghi là “Nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện theo quy định tại cáchợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh ngân hàng ký kết giữa bên vay vốn và bên nhận thếchấp”...
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 21/2011/ KDTM-ST ngày23/5/2011, Tòa án nhân dân tỉnh ĐN quyết định (tóm tắt):
- Buộc ông Nguyễn Vũ A và bà Đinh Thị Thu Th trả cho Ngân hàng ĐA tổng số tiền 110.224.339 đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 90.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 20.224.339 đồng. Ông Nguyễn Vũ A và bà Đinh Thị Thu Th phải chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký từ ngày 24/5/2011 đến khi thi hành án xong.
- Tài sản là nhà và đất số 22/61E, phường TH, thành phố BH, tỉnh ĐN tọa lạc tại thửa 181, tờ bản đồ số 09 được ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ở và Quyền sồ hữu nhà ở số AH 884613 ngày 14/3/2007 cho ông Lê Quốc D và bà Lê Thị Lan A, được bảo đảm thi hành án...
Ngày 03/6/2011, ông Lê Quốc D và bà Lê Thị Lan A có đơn kháng cáo.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 147/2011/KDTM-PTngày 13/9/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao Thành phố HCM đã quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sửa bản án sơ thẩm, xử: Buộc ông Nguyễn Vũ A và bà Đinh Thị Thu Th phải trả cho Ngân hàng ĐA tổng số tiền còn nợ là 110.224.339 đồng; trong đó, nợ gốc là 90.000.000 đồng, nợ lãi là 20.224.339 đồng; ông Nguyễn Vũ A và bà Đinh Thị Thu Th còn phải chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên mà hai bên đã ký từ ngày 24/5/2011 cho đến khi thi hành án xong.
Tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người thứ ba giữa Ngân hàng ĐA - Phòng giao dịch TP với bên vay vốn là ông Nguyễn Vũ A, bà Đinh Thị Thu Th và bên thế chấp tài sản là ông Lê Quốc D, bà Lê Thị Lan A vì có nội dung trái pháp luật theo Hợp đồng thế chấp tài sản Thp08/020/HĐBĐ ngày 21/01/2008; Buộc Ngân hàng ĐA - Phòng giao dịch TP phải trả lại toàn bộ giấy tờ bản chính quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp nêu trên cho ông Lê Quốc D và bà Lê Thị Lan A ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật...
Sau khi xét xử phúc thẩm, Ngân hàng ĐA, ông Nguyễn Vũ A và bà Đinh Thị Thu Th có đơn đề nghị xét lại bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Kháng nghị Giám đốc thẩm số57/2014/KN-KDTMngày 12/9/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử Giám đốc thẩmvtheo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 147/2011/KDTM-PT ngày 13/9/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố HCM; giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố HCM xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nhận định:
... Việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông A, bà Th phải thanh toán cho Ngân hàng ĐA 90.000.000 đồng nợ gốc là có căn cứ, đúng pháp luật.
Riêng về khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc 90.000.000 đồng: Tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận theo yêu cầu của Ngân hàng ĐA buộc ông A, bà Th phải thanh toán số tiền 20.224.339 đồng là chưa đủ căn cứ vững chắc...
Về việc xử lý tài sản thế chấp của ông T và của ông D, bà Lan A:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Vũ A và bà Đinh Thị Thu Th đã thanh toán được 360.000.000 đồng trong tổng số 450.000.000 đồng nợ gốc cùng tiền lãi phát sinh của 360.000.000 đồng này và theo yêu cầu của ông A, bà Th, Ngân hàng ĐA đã giải chấp tài sản thế chấp của ông Nguyễn Vũ T. Tài sản của ông T (trị giá 254.000.000 đồng) được dùng để bảo đảm cho ông A, bà Th vay 200.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết tranh chấp trước khi Ngân hàng ĐA khồi kiện ra tòa án, ông D, bà Lan A thừa nhận đã sử dụng 90.000.000 đồng/450.000.000 đồng tiền vay nói trên và cam kết trả nợ. Tài sản của ông D, bà Lan A trị giá 280.000.000 đồng; trong hợp đồng thế chấp không ghi phạm vi bảo lãnh cụ thể là bao nhiêu mà chỉ ghi “Nghĩa vụ được bảo đảm theo hợp đồng tín dụng...”. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2005, ông D và bà Lan A phải chịu trách nhiệm của người bảo lãnh đối với số tiền mà ông D, bà Lan A thừa nhận đã sử dụng là 90.000.000 đồng gốc và tiền lãi phát sinh của số tiền này.
Với các lý do trên đây thì việc Ngân hàng ĐA chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Vũ A, bà Đinh Thị Thu Th và ông Nguyễn Vũ T giải chấp tài sản thế chấp của ông T là không trái quy định tại các Điều 319, 347 Bộ luật Dân sự năm 2005 và tinh thần hướng dẫn tại khoản 5 Mục III Thông tư số 07/2003/TT-NHNN ngày 19/5/2003 về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm của Tổ chức tín dụng (“Trong thời hạn bảo đảm, các bên có thế thỏa thuận rút bớt,... tài sản bảo đảm...”). Việc rút bớt tài sản bảo đảm của ông T không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ bảo đảm bằng tài sản của ông D và bà Lan A.
Tòa án cấp phúc thẩm xác định Hợp đồng thế chấp tài sản ký giữa ông Lê Quốc D, bà Lê Thị Lan A với Ngân hàng ĐA bị vô hiệu với lý do không quy định rõ phạm vi giới hạn của việc bảo lãnh và xác định Ngân hàng ĐA cho ông Nguyễn Vũ A rút tài sản thế chấp không đúng quy định tại Thông tư 07/2003/TT-NHNN ngày 19/5/2003 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn một số quy định về bảo đảm tiên vay của các tổ chức tín dụng.
Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng các Điều 471 (quy định về Hợp đồng vay tài sản), 474 (quy định về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay), 478 (quy định về Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn); khoản 2, Điều 305 (quy định về Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự) Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 54 Luật Các tổ chức tín dụng (quy định về Nghĩa vụ của cổ đông phổ thông) để giải quyết vụ án là không chính xác...
Bồi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2011).
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 147/2011/KDTM-PT ngày 13/9/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố HCM xét xử vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA với bị đơn là ông Nguyễn Vũ A, bà Đinh Thị Thu Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Quốc D và bà Lê Thị Lan A;
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố HCM xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.