Luật sư tư vấn:

Vụ án thực tiễn: Án lệ số 08/2016/AL của Tòa án nhân dân tối cao về mối quan hệ giữa hợp đồng bảo đảm với hợp đồng tín dụng, xác định lãi suất, việc điểu chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Tòa án nhân dân tối cao).

Quy định của pháp luật liên quan đến ản lệ:

-    Các Điều 471, 474 và Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005;

-     Khoản 2, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

-     Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn TCTD cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;

-    Khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 20/7/2010 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TL (sau đây viết tắt là Vietcombank) và Công ty cổ phần Dược phẩm K (Công ty K) có ký kết 04 hợp đồng tín dụng, gồm: Hợp đồng tín dụng số 03/07/NHNT-TL ngày 25/12/2007; số 04/07/NHNT-TL ngày 28/12/2007; số 144/08/NHNT-TL ngày 28/3/2008 và số 234/08/NHNT-TL ngày 27/5/2008... Thực hiện hợp đồng, Vietcombank - Chi nhánh TL đã giải ngân cho Công ty K vay số tiền theo các hợp đồng tín dụng nói trên. Công ty K chỉ mới trả được một phần tiền nợ gốc và nợ lãi. Vietcombank khỏi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty K phải thanh toán số tiền còn nợ gốc và lãi của 04 hợp đồng tín dụng nêu trên là 8.197.957.837 đồng...

Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số32/2011/ KDTM-STngày 24/3/2011, Tòa án nhân dân thành phố’ HN quyết định:

“1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đối với Công ty cổ phần Dược phẩm K. Buộc Công ty K có trách nhiệm phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi là 8.197.957.837 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đòi phát mãi các tài sản là giá trị quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở...

Ngày 04/4/2011, Vietcombank có đơn kháng cáo.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 148/2011/KDTM-PT ngày 17/8/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại HN quyết định: “Sửa Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 32/2011/KDTM-ST ngày 23 và 24/3/2011 của Tòa án nhân dân thành phố HN về phần nghĩa vụ bảo lãnh đối với bà Nguyễn Thị Ph và vợ, chồng ông Nguyên Đăng D, bà Đỗ Thị L, cụ thể như sau:

Xử: Các Biên bản bàn giao hồ sơ tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh ngày 03/9/2007 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh TL với bà Nguyễn Thị Ph và vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, bà Đỗ Thị L là hợp đồng bảo lãnh. Buộc Công ty cổ phần Dược phẩm K phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 8.197.957.837 đồng...

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Ph; ông Nguyễn Đăng D và bà Đỗ Thị L có nhiều đơn đề nghị xét lại bản án nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm. Tại Quyết định kháng nghị số 34/2012/KDTM-KN ngày 15/10/2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 148/2011/KDTM-PT ngày 17/8/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại HN; giao hồ sơ vụ án cho Tòa này xét xử lại.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tốì cao.

Nhận định:

... hai hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo lãnh cho người thứ ba vay vốn Ngân hàng đều không nêu rõ bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng nào và đều được ký kết sau khi 04 hợp đồng tín dụng (số 03/07/NHNT-TL ngày 25/12/2007; số 04/07/NHNT-TL ngày 28/12/2007; số 144/08/NHNT-TL ngày 28/3/2008 và số 234/08/NHNT-TL ngày 27/5/2008) đã được Vietcombank - Chi nhánh TL giải ngân... Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đỗ Văn Ch - Giám đốc Công ty K trình bày: “Công ty K không biết việc viết thêm này”“Không đồng ý với yêu cầu phát mại của Ngân hàng. Các tài sản của bà Ph và vợ chồng ông D, bà L là do Ngân hàng ghi thêm trong các hợp đồng tín dụng’...

Bên cạnh hai hợp đồng thế chấp nêu trên thì trong hồ sơ vụ án có 02 bộ tài liệu liên quan đến việc thế chấp tài sản: 01 bộ của bà Ph; 01 bộ của vợ chồng ông D, bà L; trong mỗi bộ đều có: Biên bản định giá tài sản và Biên bản bàn giao tài sản cùng đề ngày 03/9/2007; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp (ngày 29/01/2008 của bà Ph; ngày 25/6/2008 của ông D, bà L). Tuy nhiên, trong các Biên bản và Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp này cũng không nói rõ bảo đảm cho khoản vay của hợp đồng tín dụng nào...

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định: “Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền châm thi hành án theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố’ tương
ứng với thời gian chậm thi hành án” cũng là không đúng. Đối với các khoản tiền vay của tổ chức ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà bên vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bên vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297; Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2011).

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 148/2011/KDTM-PT ngày 17/8/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại HN xét xử vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam với bị đơn là Công ty cổ phần Dược phẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ph, ông Nguyễn Đăng D, bà Đỗ Thị L.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại HN xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Nội dung án lệ:

Tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm quyết định: “Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đổi với số tiền chậm thi hành án theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thỉ hành án “cũng là không đúng. Đối với các khoản tiền vay của tổ chúc ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà bên vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xủ sơ thẩm bên vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.