Luật sư tư vấn:

Vụ án 5: Quyết định Giám đốc thẩm số 25/2015/ KDTM ngày 06/11/2015 của Tòa án nhân dân tối cao về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng thương mại cổ phần SGCT (nguyên đơn) với Công ty trách nhiệm hữu hạn rượu VPh (bị đơn)

Tóm tắt nội dung vụ án:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28/7/2011 của ngân hàng thương mại cổ phần SGCT và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì thấy:

Ngân hàng thương mại cổ phần SGCT (gọi tắt là “Ngân hàng”) cho Công ty TNHH rượu VPh (gọi tắt là “Công ty rượu VPh”) vay tiền theo 04 hợp đồng tín dụng, gồm: hợp đồng tín dụng trung - dài hạn số 173/2005/HĐTD-TDH-DN ngày 09/9/2005; số 50/2006/HĐTD-TDH-DN ngày 01 /3/2006; số 250/2006/HĐTD DA-DN ngày 30/11/2006 và số 07/2007/ HĐTD DA-DN ngày 08/01/2007. Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty rượu VPh vay theo bốn hợp đồng tín dụng nêu trên với tổng số tiền là 91.997.696.573 đồng; mục đích sử dụng tiền vay: đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất cồn, gas, rượu, phân vi sinh tại thôn MH, xã SH, huyện SH, PY.

Tại 04 hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về lãi suất như sau: Lãi suất cho vay năm đầu tiên là 1,2%/tháng; các năm tiêp theo: lãi suất tiết kiệm 12 tháng lĩnh lãi sau do Tổng giám đốc Ngân hàng công bố từng thời kỳ + 0,45%/ tháng; phạt chậm trả đối với nợ gốc quá hạn (lãi suất nợ quá hạn) bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi suất cho vay và phạt chậm trả thay đổi theo thông báo từng thời điểm của Ngân hàng.

Ngoài lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất nợ quá hạn như nêu trên, tại Hợp đồng tín dụng trung - dài hạn số 173/2005/HĐTD-TDH-DN ngày 09/9/2005 và hợp đồng tín dụng trung- dài hạn số 50/2006/HĐTD-TDH-DN ngày 01/3/2006, các bên còn có thỏa thuận về phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay (phạt chậm trả lãi) như sau: Chậm trả từ 11 đến 30 ngày: mức phạt 2%, chậm trả trên 30 ngày: mức phạt là 5% tính trên số lãi vốn vay chậm trả. Đối với Hợp đồng tín dụng số 250/2006/HĐTD DA-DN ngày 30/11/2006 và Hợp đồng tín dụng số 07/2007/HĐTD DA-DN ngày 08/01/2007 các bên thỏa thuận phạt chậm trả lãi như sau: chậm trả từ 1 đến 30 ngày: mức phạt 2%, chậm trả trên 30 ngày: mức phạt 5% tính trên số lãi vốn vay chậm trả.

Tài sản bảo đảm nợ vay:

Sau khi giải ngân theo các hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng và Công ty rượu VPh đã ký bốn Phụ kiện nhận nợ và trả nợ số 173/PK-NNTN/2006 ngày 28/02/2006; số 50/ PK-NNTN/2006 ngày 15/4/2006; số 250/PK-NNTN/2007 ngày 15/01/2007 và số 07/PK-NNTN/2007 ngày 30/5/2007. Trong các “Phụ kiện nhận nợ và trả nợ” nói trên, tại mục 3 đều có ghi “tài sản bảo đảm nợ vay”: Một phần trị giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại 839 LBB, phường TT, quận TP, Thành phố HCM (trị giá 48.843.000.000 đồng); Một phần trị giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại 576 LBB, phường HT, quận TP, Thành phố HCM (trị giá 22.320.000.000 đồng); Cam kết thế chấp toàn bộ nhà xưởng, máy móc thiết bị của dự án đầu tư xây dựng nhà máy cồn-gas, rượu, phân vi sinh tại tỉnh Phú Yên (tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty rượu VPh)...

Riêng đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại 576 LBB, phường HT, quận TP, Thành phố HCM và toàn bộ nhà xưởng, máy móc thiết bị của dự án đầu tư xây dựng nhà máy cồn-gas, rượu, phân vi sinh tại tỉnh PY thì các bên không ký kết hợp đồng thế chấp.

Tính đến ngày 27/7/2011, Công ty rượu VPh chỉ thanh toán được 2.400.000.000 đồng tiền gốc và 12.997.713.704 đồng tiền lãi. Ngân hàng khỏi kiện yêu cầu tòa án buộc Công ty rượu VPh thanh toán 174.779.285.912 đồng (trong đó nợ gốc 89.597.696.573 đồng và nợ lãi (lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi) 85.181.589.339 đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng, nếu không thanh toán được thì cho phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ...

Nhận định:

...Việc các bên thỏa thuận về lãi trong hạn, phạt chậm trả đối với nợ gốc quá hạn (lãi suất nợ quá hạn) bằng 150% lãi suất trong hạn là đúng pháp luật... Tuy nhiên, các bên còn có thỏa thuận về phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay (phạt chậm trả lãi) với mức 2% hoặc 5% tính trên số lãi vay chậm trả là không đúng quy định tại khoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005. Tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty rượu VPh phải thanh toán cho Ngân hàng 2.163.143.899 đồng tiền phạt chậm trả đối với nợ lãi vốn vay (phạt chậm trả lãi) là không đúng pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định: “Buộc Công ty rượu VPh có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGCT số tiền 174.779.285.912 đồng (trong đó nợ gốc 89.597.696.573 đồng và nợ lãi 85.181.589.339 đồng) và lãi phát sinh cho đến ngày thanh toán dứt điểm số tiền này theo lãi suất tại các hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết “và” kể từ ngày Ngân hàng thương mại cổ phần SGCT có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty rượu VPh chưa thanh toán đủ số tiền thuộc nghĩa vụ của mình thì hàng tháng Công ty rượu VPh còn phải trả lãi theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả” là không đúng, gây thiệt hại cho Công ty rượu VPh, vì như vậy thì khoản 85.181.589.259 đồng tiền lãi phải chịu thêm một lần lãi trong hạn nữa là lãi chồng lãi (khoản lãi phải chịu lãi nhiều lần).

Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên thời điểm tiếp tục chịu lãi (tính từ khi Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án) là không đúng; thời điểm tiếp tục chịu lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo các hợp đồng tín dụng phải được tính từ ngày tiếp sau ngày xét xử sơ thẩm mới đúng.

Về việc xử lý tài sản thế chấp:

... Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định: “Trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn rượu VPh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng thương mại cổ phần SGCT được quyền yêu cầu phát mại... toàn bộ máy móc thiết bị và công trình trên

đất... của Công ty trách nhiệm hữu hạn rượu VPh” cũng là không đúng và không thể thi hành được. Bởi vì hai bên không ký hợp đồng thế chấp. Công ty rượu VPh chỉ mới “Cam kết thế chấp toàn bộ nhà xưỏng, máy móc thiết bị của dự án đầu tư xây dựng nhà máy cồn-gas, rượu, phân vi sinh...” tại Km 32 quốc lộ 25 thôn MH, xã SH, huyện SH, tỉnh PY trong các Phụ kiện nhận nợ và trả nợ. Trong khi đó, theo tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng s chi nhánh PT gửi kèm theo đơn đề nghị giám đốc thẩm thì Công ty rượu VPh đã đem “Công trình xây dựng của nhà máy sản xuất đường, cồn, rượu, phân vi sinh tổng hợp...” và “toàn bộ máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất của hệ thống sản xuất đường, cồn, rượu, phân vi sinh tổng hợp” tại Km 32 quốc lộ 25 thôn MH, xã SH, huyện SH, tỉnh PY thế chấp cho Ngân hàng s chi nhánh PT theo các Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2011/HĐTC ngày 21/6/2011 và số 02/2011/HĐTC ngày 22/6/2011 để bảo đảm cho các khoản vay của Công ty TNHH sản xuất - thương mại tổng hợp VPh tại Ngân hàng s chi nhánh PT. Các hợp đồng thế chấp nêu trên đều được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Như vậy, toàn bộ máy móc thiết bị và công trình trên đất tại Km32 Quốc lộ 25, thôn MH, xã SH, huyện SH, tỉnh PY của Công ty rượu VPh đã được thế chấp cho Ngân hàng s chi nhánh PT nên không thể thi hành quyết định nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm. Khi giải quyết vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không biết việc thế chấp nêu trên nên đã không đưa Ngân hàng s vào tham gia tố tụng. Khi giải quyết lại vụ án này, cần phải đưa Ngân hàng s, Chủ doanh nghiệp dệt may thương mại VPh vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết vụ án (phần liên quan đến tài sản trên), bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 để giải quyết vụ án này là không đúng.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2011);

QUYẾT ĐỊNH:

1-    Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 61/2012/KDTM-PT ngày 28/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại ĐN và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2012/KDTM-ST ngày 09/4/2012 Tòa án nhân dân tỉnh PY.

2-    Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh PY xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.