Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
Hiến pháp năm 2013.
Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2010.
Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Luật thương mại năm 2005.
2. Hợp đồng dân sự và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là gì?
Hợp đồng dân sự là gì?
Bộ luật dân sự đã định nghĩa nó ở dạng khái quát hơn: Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó. Hợp đồng dân sự (nghĩa chủ quan) và pháp luật về hợp đồng dân sự (nghĩa khách quan) là hai khái niệm không đồng nhất với nhau.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những quan điểm, tư tưởng xuyên suốt, mẫu mực trong toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật dân sự, được quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 gồm 5 nguyên tắc như sau:
1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của thuật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
4.Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.
Năm nguyên tắc cơ bản trên có tính, chất định hướng, về lý thuyết, nguyên tắc cơ bản của pháp luật về họp đồng có vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc giải thích và áp dụng linh hoạt và thống nhất các nguồn của pháp luật về hợp đồng cũng như bảo vệ chủ quyền pháp lý của Việt Nam.
Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 là hai văn bản pháp luật quan trọng nhất trong pháp luật về họp đồng. Trong trường hợp có sự xung đột giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005, quy định của Luật Thương mại 2005 chỉ được áp dụng nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015. Liên quan đến quan hệ giữa các nguồn khác của pháp luật về hợp đồng, bản thân các nguyên tắc cơ bản cũng là một nguồn của pháp luật về họp đồng và tập quán chỉ được áp dụng khi không trái với các nguyên tăc cơ bản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015.
3. Phân tích nguyên tắc tự chịu trách nhiệm và bình đẳng trước pháp luật trong các giao dịch dân sự:
3.1 Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm:
Tự chịu trách nhiệm không phải là một nguyên tắc phổ quát của pháp luật về họp đồng trên thế giới. Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2010 cũng không quy định đây là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng.
Trong pháp luật về họp đồng của Việt Nam, tự chịu trách nhiệm là một nguyên tắc cơ bản được thừa nhận từ Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 cho đến Bộ luật Dân sự 2015. Tự chịu trách nhiệm không phải là một nguyên tắc cơ bản được quy định trong Luật Thương mại 1997 và Luật Thương mại 2005. Theo các nguyên tắc xung đột pháp luật, nguyên tắc tự chịu trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 vẫn sẽ áp dụng cho hợp đồng thương mại được điều chỉnh bởi Luật Thương mại 2005.
Điều 3.5 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định nguyên tắc tự chịu trách nhiệm như sau:
“Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.”
Nội dung của nguyên tắc tự chịu trách nhiệm nhằm đảm bảo các bên Pong hợp đồng phải có trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận. Nếu một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận, hành vi này được xem là vi phạm họp đồng và đòi hỏi bên vi phạm phải tự mình chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với hành vi vi phạm.
Nếu bên vi phạm không chịu trách nhiệm, bên vi phạm sẽ bị áp dụng chế tài hoặc biện pháp khắc phục thực hiện. Nguyên tắc này được đưa ra nhằm khẳng định tính chịu ràng buộc trong việc thực hiện nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm có ảnh hưởng nhất định trong việc giải thích tư cách pháp nhân của tổ chức có tư cách pháp nhân, đặc biệt là các pháp nhân phi thương mại. Bộ luật Dân sự 2015 lần đầu tiên quy định về các pháp nhân phi thương mại, trong đó có cơ quan nhà nước, khi tham gia hợp đồng. Với tư cách pháp nhân, các pháp nhân phi thương mại có năng lực pháp luật và phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với hợp đồng do mình xác lập và thực hiện. Điều này có nghĩa là Nhà nước không chịu trách nhiệm thay cho pháp nhân phi thương mại là cơ quan nhà nước khi tham gia hợp đồng.
Trên thực tế, các cơ quan nhà nước thường xuyên tham gia vào các quan hệ hợp đồng từ các hợp đồng dân sự đơn giản nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng cho đến các hợp đồng thương mại phức tạp. Trong các quan hệ hợp đồng này, các cơ quan nhà nước tham gia với tư cách là các pháp nhân phi thương mại và tự chịu trách nhiệm theo hợp đồng. Các bên còn lại trong hợp đồng về lý thuyết không có quyền yêu cầu sử dụng ngân sách nhà nước để thanh toán cho nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước theo hợp đồng. Các cơ quan nhà nước chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản riêng của mình.
3.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Cũng giống như nguyên tắc tự chịu trách nhiệm đã được phân tích ở trên, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật không phải là một nguyên tắc phổ quát của pháp luật về họp đồng trên thế giới. Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2010 cũng không quy định đây là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng. Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2010 có quy định về việc họp đồng có thể bị vô hiệu nếu có điều khoản bất bình đẳng một cách không chính đáng giữa các bên. Tuy nhiên, nguyên tắc trên của Bộ nguyên tắc UNIDROIT nhằm bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế chứ không nhằm bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật.
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật đã được quy định rõ ràng trong pháp luật về họp đồng của Việt Nam từ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh Hợp đồng Dân sự 1991, Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 cho đến Bộ luật Dân sự 2015.
Điều 3.1 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định nguyên tắc bình đẳng như sau:
“Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.”
Điều 10 của Luật Thương mại 2005 quy định:
“Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại.”
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 về cơ bản là giống nhau.
Các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật phù hợp với nguyên tắc nền tảng quy định của Hiến pháp 2013 về việc “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và “không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.” Theo quy định của Hiến pháp 2013, bình đẳng được hiểu là quyền không bị phân biệt đối xử và được pháp luật bảo vệ như nhau về dân tộc, đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, giới tính, thành phần kinh té và một số quyền công dân đặc biệt khác. Hiểu một cách đơn giản, bình đẳng là quyền được đối xử như nhau trong cùng điều kiện pháp lý giống nhau.
Đặt trong quan hệ hợp đồng, dường như “bình đẳng” theo Hiến pháp 2013 cũng như theo Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 chỉ được hiểu là bình đẳng về địa vị pháp lý, không bao gồm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào giao dịch hoặc họp đồng. Việc thỏa thuận của các bên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ một cách không bình đẳng không thuộc phạm vi của nguyên tắc cơ bản này mặc dù vấn đề này cũng được quy định như lưu ý trong đoạn tiếp theo. Đồng thời, nguyên tắc bình đẳng cũng nhấn mạnh vấn đề bình đẳng giữa các chủ thể. Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, mọi chủ thể đều có tư cách pháp lý độc lập và dường như không còn bất kỳ sự phân biệt nào giữa các tổ chức trong khu vực nhà nước và khu vực tư nhân khi tham gia vào quan hệ hợp đồng.
Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật có những quy định nhằm hướng đến mục đích bảo vệ quyền của bên yếu thế . Trong các trường hợp này, quy định của pháp luật nhằm hướng đến sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Ở một khía cạnh khác, để “cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên,” Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định cho phép sửa đổi hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, đây không phải là các quy định nhằm bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê