Luật sư hướng dẫn:

1. Định nghĩa về thị trường liên quan ?

Khoản 7 Điều 3 của Luật cạnh tranh năm 2018 quy định thị trường liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá trong khu vục địa lí cụ thể có các điều kiện cạnh tranh tưong tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lí lân cận.

Thị trường liên quan được xác định trên cơ sở thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lí liên quan. Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả; còn thị trường địa lí liên quan là khu vực địa lí cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lí lân cận (Xem: Điều 9 Luật cạnh tranh năm 2018).

Như vậy, về cơ bản cách thức xác định thị trường liên quan theo Luật cạnh tranh của Việt Nam là thống nhất với cách tiếp cận của các nước khác trên thế giới ngoại trừ việc còn thiếu quy định về phân tích yếu tố thời điểm trong việc xác định thị trường liên quan. Đây là điểm thiếu sót bởi lẽ, như phân tích trong phần

2. Phân tích yếu tố thời điểm để xác định thị trường liên quan.

Tại tất cả các nước thì việc xác định thị trường liên quan có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình xử lí vụ việc cạnh tranh. Trong bối cảnh của Việt Nam, việc xác định thị trường liên quan đóng vai trò đặc biệt quan ưọng khi mà pháp luật cạnh tranh thường sử dụng tiêu chí thị phần làm cơ sở để áp dụng các quy định cấm. Chẳng hạn, thị phần là cơ sở để xác định liệu các doanh nghiệp tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh có bị cấm thực hiện hay không; xác định trường hợp tập trung kinh tế bị cấm và trường hợp các doanh nghiệp tập trung kinh tế cần phải thông báo cho ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước khi tiến hành. Để xác định thị phần của từng doanh nghiệp trong vụ việc cạnh tranh thì việc đàu tiên cơ quan quản lí cạnh tranh phải thực hiện chính là xác định thị trường liên quan.

3. Xác định thị trường sản phẩm liên quan ?

Khoản 1 Điều 9 Luật cạnh tranh quy định thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả.

Hàng hoá, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về đặc tính nếu hàng hóa, dịch vụ đó có sự giống nhau hoặc tương tự nhau về một hoặc một số yếu tố như thành phần, tính chất vật lí, hoá học, tính năng kĩ thuật, tác dụng phụ, khả năng hấp thu của người sử dụng và tính chất riêng biệt khác của hàng hóa, dịch vụ. Hàng hoá, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng nếu hàng hóa, dịch vụ đó có mục đích sử dụng chủ yếu giống nhau.

Hàng hoá, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về giá cả có thể thực hiện theo phương pháp như sau:

“Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về giá cả nếu có ít nhất 50% của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sổng tại khu vực địa lí liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hoá, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hoá, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp”.

Như vậy, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam đã ứng dụng thử nghiệm SSNIP vào việc xác định thị trường sản phẩm liên quan, mặc dù phiên bản SSNIP của Việt Nam rất khác so với cách áp dụng SSNIP thông thường. Như đã phân tích ở trên, ở các nước như Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu, việc tăng giá giả định trong thử nghiệm SSNIP thường dao động từ 5% - 10% và thời gian tăng giá là một năm. Đây được coi là mức tăng giá và khoảng thời gian tăng giá hợp lí để xác định khả năng thay đổi nhu cầu của thị trường. Với phiên bản SSNIP của Việt Nam, tác giả Mark Furse bình luận rằng: "... việc sử dụng một cuộc điều tra kiểu như vậy khó có khả năng đem lại kết quả chính xác và có một sự luẩn quẩn trong quá trình áp dụng khi mà thị trường địa lí liên quan phải được xác định trước khi tiến hành cuộc điều tra để xác định thị trường sản phẩm liên quan’’. Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn cũng cho rằng “có lẽ chủng ta nên xem lại tỉ lệ ấn định mức tăng giá trên 10% và cần phải có một ngưỡng tối đa nhất định nào đó”.

Trên thế giới, mặc dù phương pháp SSNIP được áp dụng rất phổ biến trong việc phân tích các vụ việc cạnh tranh, bản thân phương pháp này cũng có những nhược điểm nhất định, do đó, ngoài thử nghiệm SSNIP, cơ quan cạnh tranh các nước còn áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định thị trường sản phẩm liên quan. Tiếp thu kinh nghiệm của luật cạnh tranh các nước, Luật cạnh tranh Việt Nam cũng quy định về việc ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thể xem xét thêm các yếu tố như tỉ lệ thay đổi về cầu của một hàng hoá, dịch vụ khi có sự thay đổi về giá của hàng hoá dịch vụ khác (phương pháp tính độ co dãn chéo của cầu); chi phí và thời gian cần thiết để khách hàng chuyển sang mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ khác; thời gian sử dụng của hàng hoá, dịch vụ; tập quán tiêu dùng; các quy định pháp luật tác động đến khả năng thay thế của hàng hóa, dịch vụ; khả năng phân biệt về mức giá mua, bán đối với các nhóm khách hàng khác nhau; và khả năng thay thế về cung. Khả năng thay thế về cung là việc các doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh một loại hàng hoá, dịch vụ có khả năng gia tăng sản lượng, số lượng bán hoặc các doanh nghiệp khác bắt đầu hoặc chuyển sang sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó trong thời gian dưới 6 tháng mà không có sự tăng lên đáng kể về chi phí nếu giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên từ 5% đến 10%. Như vậy, Việt Nam tiếp thu mô hình của châu Âu trong việc đưa các phân tích về khả năng thay thế về cung vào việc xác định thị trường sản phẩm liên quan. Tiếc là việc phân tích những yếu tố nói trên không mang tính chất bắt buộc mà chỉ được thực hiện trong trường hợp phương pháp xác định thuộc tính “có thể thay thế cho nhau” của hàng hoá, dịch vụ theo đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả cho kết quả chưa đủ để kết luận về thị trường sản phẩm liên quan.

Ngoài quy định về khả năng thay thế về cầu và khả năng thay thế về cung, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam đang xem xét quy định về vấn đề thị trường sản phẩm bổ trợ như sau:

Sản phẩm bổ trợ cho sản phẩm liên quan là các hàng hóa, dịch vụ được sử dụng nhằm nâng cao tính năng, hiệu quả hoặc cần thiết cho việc sử dụng sản phẩm liên quan; theo đó, khi giá của sản phẩm này tăng hoặc giảm thì cầu đối với sản phẩm liên quan sẽ giảm hoặc tăng tương ứng.

Nhìn chung, quy định này hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận của Liên minh châu Âu. Khi đó, thị trường sản phẩm liên quan có thể được xác định là thị trường của một hoặc một nhóm các hàng hóa, dịch vụ đặc thù căn cứ vào đặc tính của hàng hóa, dịch vụ đó, tập quán tiêu dùng hoặc phương thức.

Về vấn đề áp dụng Luật cạnh tranh, cho đến nay, Việt Nam mới đã có ba vụ việc hạn chế cạnh tranh được đưa ra xử lí, một liên quan đến thoả thuận hạn chế cạnh tranh, một liên quan đến việc lạm dụng vị trí độc quyền và một liên quan đến tập trung kinh tế. Qua phân tích các vụ việc cho thấy trong hai vụ việc đầu tiên (vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa 19 doanh nghiệp bảo hiểm và vụ việc lạm dụng vị trí độc quyền của Vinapco), các cơ quan cạnh tranh của Việt Nam chủ yếu dựa vào đặc tính và mục đích sử dụng của hàng hoá, dịch vụ để xác định thị trường liên quan mà không áp dụng thử nghiệm SSNIP.

Chẳng hạn, trong việc xử lí vụ Công ti xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) ngừng cung cấp nhiên liệu cho công ti cổ phần hàng không Jetstar Paciíic Airlines, Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh đã chủ yếu căn cứ vào đặc tính và mục đích sử dụng của dịch vụ (mà không áp dụng thử nghiệm SSNIP) để phân biệt giữa dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng với dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không quân sự và dịch vụ cung cấp xăng dầu thông thường và kết luận thị trường sản phẩm liên quan trong vụ việc này là thị trường dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng. Tương tự như vậy, trong vụ xử lí 19 doanh nghiệp bảo hiểm, Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh cũng căn cứ vào đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của dịch vụ (không áp dụng thử nghiệm SSNIP) để phân biệt giữa dịch vụ bảo hiểm vật chất xe ô tô với các loại hình dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới khác và xác định thị trường sản phẩm liên quan là thị trường dịch vụ bảo hiểm vật chất xe ô tô. Một mặt, cách xác định thị trường hên quan như vậy có khác biệt so với cách tiếp cận của các nước, mặt khác, trong bối cảnh thử nghiệm SSNIP được quy định một cách sơ sài và không hợp lí như trong Nghị định số 116/2005/NĐ-CP thì việc không áp dụng thử nghiệm này có lẽ đem lại kết quả chính xác hơn.

Chỉ đến vụ việc tập trung kinh tế giữa công ti TNHH Grabtaxi và công ti TNHH Uber Việt Nam năm 2019, bên điều tra mới sử dụng thử nghiệm SSNIP, theo đó các điều ưa viên đã khảo sát ngẫu nhiên khoảng 1000 người tiêu dùng tại Hà Nội và khoảng 1000 người tiêu dùng tại TP Hồ Chí Minh để xác định khả năng thay thế về giá. Kết quả khảo sát cho thấy có trên 50% số người tiêu dùng được hỏi sẽ không tiếp tục sử dụng dịch vụ của Grab và Uber khi giá cả thông qua dịch vụ Grab/Uber tăng lên 10% trong 6 tháng liên tiếp và chủ yếu chuyển sang các phần mềm tương tự khác hoặc gọi tổng đài taxi. Do đó, bên điều tra xác định dịch vụ kết nối thông qua tổng đài và dịch vụ kết nối qua phần mềm của các doanh nghiệp phần mềm khác có thể thay thế cho dịch vụ kết nối vận tải trên nền tảng phần mềm của Grab/Uber.

4. Thị trường địa lí liên quan

Khoản 1 Điều 9 Luật cạnh tranh quy định thị trường địa lí liên quan là một khu vực địa lí cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lí lân cận. Các yếu tố làm căn cứ để xác định ranh giới của khu vực địa lí đó bao gồm khu vực địa lí có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối hàng hóa, dịch vụ liên quan; cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên khu vực địa lí lân cận đủ gần với khu vực địa lí đang xem xét để có thể tham gia cạnh tranh với các hàng hóa, dịch vụ liên quan trên

khu vực địa lí đó; chi phí vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thời gian vận chuyển hàng hoá, cung úng dịch vụ; rào cản gia nhập, mở rộng thị trường; tập quán tiêu dùng; chi phí, thời gian để khách hàng mua vào hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, pháp luật Việt Nam xem xét thị trường địa lí liên quan dựa ttên cả hai yếu tố là khả năng thay thế về cầu và khả năng thay thế về cung. Để xác định thị trường địa lí liên quan, thử nghiệm SSNIP tiếp tục được áp dụng (mặc dù thiếu quy định về khoảng thời gian tăng giá), theo đó, khu vực địa lí được coi là có điều kiện cạnh tranh tưong tự và khác biệt đáng kể với các khu vực địa 11 lân cận nếu chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển làm giá bán lẻ hàng hoá tăng không quá 10%.(,) Thị trường địa lí liên quan còn được xác định dựa trên sự hiện diện của các rào cản gia nhập, mở rộng thị trường. Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường là những yếu tố gây cản trở sự gia nhập, mở rộng thị trường của doanh nghiệp bao gồm:

1. Rào cản pháp lí do các quy định của pháp luật, chính sách của nhà nước bao gồm các quy định về thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu; quy chuẩn kĩ thuật; các điều kiện, thủ tục để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; quy định về sử dụng hàng hóa, dịch vụ; tiêu chuẩn nghề nghiệp; và các quyết định hành chính khác của các cơ quan quản lí nhà nước.

2. Rào cản về tài chính bao gồm chi phí đầu tư sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, khả năng tiếp cận nguồn vốn, tín dụng và các nguồn tài chính khác cùa doanh nghiệp.

3. Chi phí ban đầu khi gia nhập thị trường mà doanh nghiệp không thể thu hồi khi rút khỏi thị trường.

4. Rào cản đối với việc tiếp cận, nắm giữ nguồn cung, cơ sở hạ tầng thiết yếu để sản xuất, kinh doanh; mạng lưới phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.

5. Tập quán tiêu dùng.

6. Thông lệ, tập quán kinh doanh.

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

7. Rào cản liên quan việc thực hiện quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng theo quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.

8. Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường khác.

Trước hết, việc lấy yểu tố rào cản gia nhập thị trường làm cơ sở để xác định thị trường địa lí liên quan là sự khác biệt trong cách tiếp cận của Việt Nam so với các nước khác. Như đã phân tích ở trên, luật cạnh tranh các nước thường xác định thị trường địa lí liên quan dựa trên khả năng thay thế về cầu, khả năng thay thế về cung và hàng nhập khẩu. Yếu tố rào cản gia nhập thị trường thường được sử dụng để phân tích sức mạnh thị trường hơn là để xác định thị trường địa lí liên quan (rào cản gia nhập thị trường phản ánh mức độ cạnh tranh tiềm tàng mà doanh nghiệp phải đương đầu, do đó, doanh nghiệp với thị phàn lớn hoạt động trên thị trường có rào cản gia nhập cao rất dễ bị suy đoán là đang nắm giữ sức mạnh thị trường). Ngoài ra, Luật cạnh tranh Việt Nam quy định về rào cản gia nhập thị trường để xác định thị trường địa lí liên quan nhưng lại không có quy định tương tự khi xác định thị trường sản phẩm liên quan, đây thực sự là điểm thiếu hoàn thiện của pháp luật bởi vì rào cản gia nhập thị trường cũng có thể tác động tới khả năng thay thế về cung và phạm vi của thị trường sản phẩm liên quan.

Trong thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh, trong cả ba vụ việc cạnh tranh được xử lí cho tới nay, Hội đồng cạnh tranh thường rất chú ý tới rào cản gia nhập thị trường để xác định thị trường địa lí liên quan (trong cả hai vụ việc rào cản quan trọng nhất được nhắc đến chính là các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kinh doanh, sử dụng dịch vụ - cụ thể là giấy phép kinh doanh). Trong vụ Vinapco, căn cứ vào tính đặc thù của địa điểm tra nạp nhiên liệu cho máy bay dân dụng và hai rào cản gia nhập thị trường là Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu do Bộ Công Thương cấp và Giấy phép cung cấp dịch vụ hàng không do Bộ Giao thông vận tải cấp, Hội đồng xử lí cạnh tranh xác định thị trường địa lí liên quan chính là các sân bay dân dụng và sân bay dùng chung dân dụng và quân sự của Việt Nam. Trong vụ xử phạt 19 doanh nghiệp bảo hiểm, Hội đồng xử lí cạnh tranh xác định thị trường địa lí liên quan là thị trường toàn quốc căn cứ vào rào cản gia nhập thị trường là các quy định của Nhà nước về điều kiện kinh doanh dịch vụ bảo hiểm theo đó (a) tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm vật chất xe ôtô chỉ được tham gia bảo hiểm tại các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam và (b) chỉ các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm hợp pháp tại Việt Nam mới được phép tham gia kinh doanh trên thị trường dịch vụ bảo hiểm vật chất xe ôtô.

Trong vụ tập trung kinh tế Grab/Uber thì Quyết định số 24/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải được coi là rào cản gia nhập thị trường, theo đó, chỉ những doanh nghiệp đã làm đề án và được Bộ Giao thông vận tải cấp phép mới được tham gia thí điểm và chương trình thí điểm được phép triển khai tại 05 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nang, Quảng ninh và Khánh Hòa. Trên thực tế, UBND tỉnh Khánh Hòa và Đà Nằng chưa cho phép GrabTaxi triển khai thực hiện thí điểm; và GrabTaxi và Uber chỉ có hoạt động kinh doanh tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nằng. Vì vậy, bên điều tra xác định thị trường địa lí liên quan của vụ việc là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Công ty luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Điều tra vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng cạnh tranh ?