STT Tội cướp tài sản Tội cướp giật tài sản

1.Nội dung

Điều 168. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn cõng lâm vào tĩnh trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tắn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
d) Sử dụng vũ khỉ, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Gây ảnh hưởng xẩu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
h) Tái phạm nguy hiếm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây, thỉ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gãy thương tích hoặc gầy tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng.thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trưòng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%) trở lén hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31%) trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tĩnh trạng khẩn cấp.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 171. Tội cướp giật tài sản
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tỉnh chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
ỉ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đằng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù. từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tĩnh trạng khẩn cẩp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

2.Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cướp tài sản được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 14 tuổi trở lên. 
 
Chủ thể của tội cướp giật tài sản được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 14 tuổi trở lên nếu hành vi phạm tội thuộc các khoản 2, 3 và 4 của điều luật hoặc là người từ đủ 16 tuổi trở lên nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật. 

3.Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Điều luật quy định 03 dạng hành vi khách quan của tội cướp tài sản. Đó là:
- Hành vi dùng vũ lực;
- Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc;
- Hành vi (khác) làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.
Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi dùng sức mạnh (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) tác động vào người khác để họ không thể hoặc không dám chống cự lại việc chiếm đoạt. Hành vi dùng vũ lực phải là hành vi nhằm vào con người. Những hành vi không nhằm vào con người đều không phải là hành vi dùng vũ lực theo quy định của điều luật. Người bị hành vi dùng vũ lực tác động có thể là chủ tài sản, là người có trách nhiệm quản lý hay bảo vệ tài sản nhưng cũng có thể là người bất kỳ mà chủ thể thực hiện hành vi dùng vũ lực cho rằng người này đang hoặc có khả năng sẽ ngăn cản việc chiếm đoạt của mình. Hành vi dùng vũ lực có thể là đánh, chém, trói, V.V..
Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc được hiểu là hành vi (lời nói hoặc bằng cử chỉ hoặc cả hai) dọa sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu chống cự lại việc chiếm đoạt. Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thích với người bị đe dọa. Dấu hiệu “ngay tức khắc" ở đây có ý nghĩa quan trọng để phân biệt hành vi đe dọa dùng vũ lực ở tội cướp với hành vi đe dọa “sẽ” dùng vũ lực ở tội cưỡng đoạt tài sản. Dấu hiệu này vừa dùng để chỉ sự nhanh chỏng về mặt thời gian (xảy ra ngay lập tức) và vừa dùng để chỉ sự mãnh liệt của hành vi đe dọa. Hành vi đe dọa dùng vũ lực ở tội cướp tài sản có tính chất mãnh liệt nhằm làm cho người bị đe dọa thấy rằng vũ lực sẽ xảy ra ngay, họ không hoặc khó có điều kiện tránh khỏi. Sự đe dọa này có khả năng làm tê liệt ý chí của người bị đe dọa. Để đánh giá hành vi đe dọa dùng vũ lực có tính chất như vậy hay không và qua đó khẳng định có phải là tội cướp tài sản hay không, cần dựa vào những tình tiết sau:
- Nội dung và hình thức của hành vi đe dọa (dọa làm gì? thái độ đe dọa như thế nào?);
- Tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa;
- Hoàn cảnh không gian và thời gian;
- Tình hình trật tự xã hội nơi và lúc xảy ra hành vi phạm tội V.V..
Dấu hiệu ngay tức khắc chỉ đòi hỏi chủ thể đã có hành vi, cử chỉ, thái độ thể hiện ra bên ngoài là dùng vũ lực ngay tức khắc mà không đòi hỏi chủ thể phải thực sự có ý định dùng vũ lực ngay tức khắc cũng như phải có đủ điều kiện để dùng vũ lực ngay tức khắc. Như vậy, những trường hợp chỉ làm ra vẻ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng không có ý định hoặc không có điều kiện dùng vũ lực ngay tức khắc cũng đã thỏa mãn dấu hiệu “ngay tức khắc” của tội cướp tài sản. Ví dụ: Dùng súng giả dọa bắn chết ngay.
Hành vi (khác) làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi có khả năng làm cho người bị tấn công không thể ngăn cản được việc chiếm đoạt như hành vi sử dụng thuốc gây mê, thuốc ngủ V.V.. Những hành vi này được coi là cùng tính chất như hành vi dùng vũ lực và hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc vì cùng có khả năng làm cho người bị tấn công không thể ngăn cản được việc chiếm đoạt.
Điều luật không mô tả hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử thừa nhận hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản là hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Khác với tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi chiếm đoạt tài sản. Chiếm đoạt không còn là mục đích mà phải là hành vi được thực hiện trên thực tế.  Hành vi chiếm đoạt tài sản ở tội cướp giật tài sản có hai dấu hiệu để phân biệt với hành vi chiếm đoạt ở các tội phạm khác. Đó là dấu hiệu công khai và dấu hiệu nhanh chóng. Dấu hiệu công khai ở đây vừa chỉ tính chất khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa thể hiện ý thức chủ quan của người phạm tội. Hành vi chiếm đoạt tài sản được coi là có tính chất công khai nếu hình thức thực hiện cho phép chủ tài sản có khả năng biết ngay khi hành vi này xảy ra. Ỷ thức công khai của người phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt có nghĩa: Người phạm tội biết hành vi chiếm đoạt của mình có tính chất công khai và hoàn toàn không có ý định che giấu hành vi đó. Diu hiệu “nhanh chóng” ở đây phản ánh thủ đoạn thực hiện hành vi chiếm đoạt của người phạm tội. Đó là thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ tài sản (sơ hở này có thể là có sẵn hoặc do người phạm tội chủ động tạo ra) nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng lẩn tránh. Thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt có thể diễn ra dưới những hình thức khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm của tài sản chiếm đoạt, vị trí, cách thức giữ tài sản cũng như những hoàn cảnh bên ngoài khác. Thủ đoạn nhanh chóng lẩn tránh thường có thể là nhanh chóng tẩu thoát. Theo đó “nhanh chóng tẩu thoát” không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội cướp giật tài sản.
Với thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng lẩn tránh như vậy, người phạm tội mong muốn chủ tài sản không có điều kiện để phản ứng kịp thời, ngăn cản việc chiếm đoạt và do vậy hoàn toàn không có ý định dùng bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó trực tiếp với chủ tài sản.
 
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Cả ba dạng hành vi khách quan được nêu trên đều thể hiện lỗi của chủ thể thực hiện là lỗi cố ý. Khi thực hiện, chủ thể đều biết rõ tính chất của hành vi mà mình thực hiện.
- Dấu hỉệu lỗi của chủ thể
Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý.
 
 
 

4.Khung hình phạt được áp dụng

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức: Đây là trường họp cướp tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm đồng phạm mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm. 
- Có tính chất chuyên nghiệp: Đây là trường họp người phạm tội đã liên tiếp phạm tội cướp tài sản và coi việc phạm tội này như là nguồn thu nhập chính. 
- Gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 % đến 30%: Đây là trường hợp người phạm tội cướp tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người bị tấn công với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 % trở lên nhưng dưới mức 31% (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
- Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà chủ thể đã sử dụng vũ khí hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm. Trong đó, vũ khí được hiểu là vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ (dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu), vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự (được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cẩu vật chất tương tự như vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao).  Phương tiện, thủ đoạn phạm tội được coi là phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khi có tính chất như tính chất của vũ khí nói trên, nghĩa là có khả năng dễ dàng gây nguy hiểm đến tính mạng người bị tấn công. Ví dụ: Dùng thuốc độc để đầu độc,...
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà tài sản chiếm đoạt trị giá từ 50 triệu đồng trở lên nhưng phải dưới mức 200 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
- Phạm tội đổi với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà nạn nhân bị tấn công là đối tượng đặc biệt và tính đặc biệt này làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ở đây, điều luật chỉ quy định rõ lỗi cố ý (“biết”) đối với đối tượng phụ nữ có thai.
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản đã góp phần gây ra tâm lý lo lắng trong dân cư về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS. 
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà tài sản chiếm đoạt trị giá từ 200 hiệu đồng trở lên nhưng phải dưới mức 500 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 của điềư luật).
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%: Đây là trường hợp người phạm tội cướp tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thưong tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người bị tấn công với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên nhưng phải dưới mức 61% (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 của điều luật).
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà chủ thể đã lợi dụng tình trạng thiên tai hoặc tình trạng dịch bệnh khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, lợi dụng thiên tai là lợi dụng tình trạng có “... hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần ...”;  lợi dụng dịch bệnh là lợi dụng tình trạng có . sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định”.  Tình trạng này phải được cấp có thẩm quyền công bố (có thế là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Thủ tướng Chính phủ). 
4. Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ ba là phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng cho trường họp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội cưóp tài sản mà tài sản chiếm đoạt trị giá từ 500 triệu đồng trở lên.
- Gây thương tích hoặc gãy tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tốn thương cơ thế 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 37% trở lên: Đây là trường họp người phạm tội cướp tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người bị tấn công với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc của nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể mỗi người từ 31% trở lên.
- Làm chết người: Đây là trường hợp người phạm tội cướp tài sản đã gây hậu quả chết người và lỗi của họ đối với hậu quả này là lỗi vô ý. Neu người phạm tội cố ý gây hậu quả chết người thì hành vi phạm tội không còn thuộc trường họp này mà cấu thành hai tội (tội giết người và tội cướp tài sản).
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tĩnh trạng khẩn cẩp: Đây là các trường hợp đã lợi dụng tình trạng rất đặc biệt của đất nước hoặc của địa phương để phạm tội. Đó là tình trạng chiến tranh của đất nước hoặc tình trạng khẩn cấp trong phạm vi nhất định hay toàn quốc. Trong đó, tình trạng chiến tranh được hiểu “... là trạng thái xã hội đặc biệt của đất nước được tuyên bố trong thời gian từ khi nước nhà bị xâm lược cho tới khi hành động xâm lược đó được chấm dứt trên thực tể”S250ì Tình trạng này được công bố bởi Chủ tịch nước trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội hoặc ủy ban thường vụ Quốc hội (xem Điều 29 Luật quốc phòng năm 2005). Tình trạng khẩn cấp có thể là tình trạng khẩn cấp về thảm họa lớn (trong đó có thiên tai), về dịch bệnh nguy hiểm hoặc về quốc phòng. Tình trạng này được cấp có thẩm quyền ban bố theo trình tự được pháp luật quy định. Ví dụ: Điều 31 Luật quốc phòng năm 2005 quy định: “1. Khi xảy ra tĩnh trạng khẩn cấp về quốc phòng, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định ban bổ tĩnh trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phicơng. 2. Căn cứ vào Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước công bố quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương;... ”.
5. Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt áp dụng cho trường họp chuẩn bị phạm tội cướp tài sản là phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Đây là trường hợp chủ thể chưa thực hiện hành vi dùng vũ lực, hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhưng đã có hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi này như chuẩn bị công cụ phạm tội, kế hoạch phạm tội hoặc đã có hành vi lập nhóm hay tham gia nhóm có kế hoạch cướp tài sản.(Z51)Quy định này là điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 99, thể hiện rõ đường     lối xử lý có sự phân hóa trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng giữa trường hợp chuẩn bị phạm tội và trường hợp tội phạm hoàn thành ở tội cướp tài sản. Theo Điều 14 BLHS, người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội cướp tài sản. 
Khoản 6 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. 
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức: Đây là trường họp cướp giật tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm. 
- Có tỉnh chất chuyên nghiệp: Đây là trường hợp người phạm tội đã liên tiếp phạm tội cướp giật tài sản và coi việc phạm tội này như là nguồn thu nhập chính. 
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng: Đây là trường hợp tài sản đã bị chiếm đoạt trị giá từ 50 triệu đồng trở lên nhưng dưới mức 200 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
- Dùng thủ đoạn nguy hiểm: Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi nhanh chóng chiếm đoạt bằng những hình thức dễ dàng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của chủ tài sản. Vỉ dụ: Giật tài sản của người đang đi xe máy...
- Hành hung để tẩu thoát: Đây là trường họp người phạm tội đã có hành vi chống trả lại việc bắt giữ để tẩu thoát. Việc chống trả này không đòi hỏi phải gây thương tích. Mục đích của việc chống trả là nhằm để tẩu thoát. Nếu nhằm để giữ bằng được tài sản vừa cướp giật thì là trường hợp chuyển hoá từ cướp giật sang cưóp tài sản. 
- Gây thương tích hoặc gây tắn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%: Đây là trường họp người phạm tội cướp giật tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người bị tấn công với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên nhưng dưới mức 31% (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ: Đây là trường họp nạn nhân của hành vi cướp giật tài sản là đối tượng đặc biệt và tính chất đặc biệt này làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ở đây, điều luật chỉ quy định rõ lỗi cố ý (“biết”) đối với đối tượng phụ nữ có thai.
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Đây là trường hợp phạm tội cướp giật tài sản đã góp phần gây ra tâm lý lo lắng trong dân cư về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS. 
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng: Đây là trường họp tài sản đã bị chiếm đoạt trị giá từ 200 triệu đồng trở lên nhưng dưới mức 500 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 của điều luật).
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%): Đây là trường hợp người phạm tội cướp giật tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người bị tấn công với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên nhưng dưới mức 61% (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 của điều luật).
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh: Đây là trượng hợp phạm tội cướp giật tài sản mà chủ thể đã lợi dụng tình trạng thiên tai hoặc tình trạng dịch bệnh khi thực hiện hành vi phạm tội. 
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ ba là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên: Đây là trường hợp tài sản bị cướp giật trị giá từ 500 triệu đồng trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%) trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên: Đây là trường họp người phạm tội cướp giật tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61 % trở lên hoặc của nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể mỗi người từ 31% trở lên.
- Làm chết người: Đây là trường họp người phạm tội cưóp giật tài sản đã gây hậu quả nạn nhân bị chết và lỗi của họ đối với hậu quả này là lỗi vô ý. Neu người phạm tội cố ý gây hậu quả chết người thì hành vi phạm tội không còn thuộc trường hợp này mà cấu thành hai tội (tội giết người và tội cướp giật tài sản).
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp: Đây là trường hợp phạm tội cướp giật tài sản mà chủ thể đã lợi dụng tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp khi thực hiện hành vi phạm tội . 
Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. 

5.Cơ sở pháp lý

Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017  Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê