Luật sư tư vấn:

1. Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra của công an nhân dân

Cơ quan điều tra của công an nhân dân gồm cơ quan cảnh sát điều tra và cơ quan an ninh điều tra.

- Thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra (Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các điều 19, 20, 21 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015):

Cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện có thẩm quyền điều ữa vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan an ninh điều tra của công an nhân dân. Thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện được quy định theo lĩnh vực chuyên môn của các cơ quan này.

Ví dụ: Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương: Chương xrv (các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của con người), Chương XV (các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân), Chương XVI .(các tội xâm phạm sở hữu), Chương XVII (các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình), Chương XXI (các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng), Chương XXII (các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính), Chương XXIV (các tội xâm phạm hoạt động tư pháp) của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan an ninh điều tra trong công an nhân dân.

Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lí kinh tế và chức vụ tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương: Chương XVIII (các tội xâm phạm trật tự quân lí kinh tế); Chương XIX (các tội phạm về môi trường); Chương XXIII (các tội phạm về chức Vụ) của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra trong công an nhân dân.

Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XX (các tội phạm về ma tuý) của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. Tổ chức cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh gồm có phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, phòng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, tham nhũng và chức vụ, phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý.

Phòng eảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương XIV, XV, XVI, XVII, XXI, XXII, XXIV của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp tỉnh (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan an ninh điều tra trong công an nhân dân) hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

>> Xem thêm:  Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?

Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lí kinh tế và chức vụ tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương XVIII, XIX, XXIII của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp tỉnh (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra trong công an nhân dân) hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XX của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm ưọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh về những tội phạm đặc biệt nghiêm frọng, phức tạp, xảy ra ưên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra; các vụ án đặc biệt nghiêm ttọng thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao huỷ để điều tta lại.

Tổ chức cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an gồm có: Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội; Cục cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, tham nhũng và chức vụ; Cục cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý; Cục cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, xâm phạm sở hữu trí tuệ (Cục cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu).

Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh quy định tại các chương XIV, XV, XVI, XVII, XXI, XXII, XXIV BLHS nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lí kinh tế và chức vụ tiến hành điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh quy định tại các chương XVIII, XIX, XXIII của BLHS nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Cục cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý tiến hành điều fra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm ưọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh quy định tại Chương XX BLHS nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

- Thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra (Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các điều 16, 17 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự):

Cơ quan an ninh điều ưạ công an cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XIII, Chương XXVI và các tội phạm quy định tại các điều 207, 208, 282, 283, 284, 299, 300, 303, 304, 305, 309, 337, 338, 347, 348, 349 và 350 BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp tỉnh; tiến hành điều tra vụ án hình sự về tội phạm khác liên quan đến an ninh quốc gia hoặc để bảo đảm khách quan theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ công an (Xem: Điều 17 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015).

Cơ quan an ninh điều tra Bộ công an điều tra các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẳm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều ứa công an cấp tỉnh quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra; vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra của công an nhân dân do Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao huỷ để điều tra lại (Xem: Điều 16 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015).

>> Xem thêm:  Tình hình tội phạm là gì ? Đặc điểm, ý nghĩa khi nghiên cứu tình hình tội phạm

2. Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân

- Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự trong quân đội nhân dân (Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các điều 26, 27, 28 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự):

Bộ phận điều tra cơ quan điều tra hình sự khu vực điều ứa các vụ án hình sự về tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXV BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự cùng cấp, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương và cơ quan an ninh điều tra ưong quân đội nhân dân.

Ban điều tra cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXV BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự quân khu và tương đương hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự khu vực nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Các phòng điều tra cơ quan điều tra hình sự Bộ quốc phòng điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều quân khu và tương đương, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra; vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự trong quân đội nhân dân do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ để điều tra lại.

- Thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra trong quân đội nhân dân (Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Các điều 23, 24 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự):

Ban điều tra cơ quan an ninh điều tra quân khu và tương đương điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XIII, Chương XXVI và các tội phạm quy định tại các điều 207, 208, 282, 283, 284, 299, 300, 303, 304, 305, 309, 337, 338, 347, 348, 349 và 350 BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự.

Các phòng điều tra cơ quan an ninh điều tra Bộ quốc phòng điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra quân khu và tương đương về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều quân khu và tương đương hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra; vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra của quân đội nhân dân do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ để điều tra lại.

3. Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Theo quy định của điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các điều 30, 31 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự) thì:

>> Xem thêm:  Tội phạm học là gì ? Đối tượng nghiên cứu, đặc điểm cơ bản của tội phạm học

Các phòng điều tra cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV BLHS xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc cơ quan điều tra, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân.

Ban điều tra cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV BLHS xảy ra ưong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc cơ quan điều tra, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự.

Về thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ, theo quy định tại khoân 4 Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra ưên địa phận cùa mình. Khi có tội phạm xảy ra, phải căn cứ vào địa điểm xảy ra tội phạm thuộc địa phận của cơ quan điều tra nào để xác định thẩm quyền điều tra. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra vụ án thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

Để kịp thời thu thập chứng cứ, ngăn chặn hành vi phạm tội, đối với sự việc có dấu hiệu phạm tội mà chưa xác định rõ thẩm quyền điều tra thì cơ quan điều tra nào phát hiện trước phải áp dụng ngay các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khi đã xác định được thẩm quyền điều tra thì chuyển vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Khi có ưanh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan điều tra thì viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp đang kiểm sát điều tra vụ án có thẩm quyền giải quyết. Các cơ quan điều tra phải thực hiện quyết định của viện kiểm sát về xác định thẩm quyền điều tra.

4. Thẩm quyền điều trạ của các cơ quan của bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lãm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư và các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Theo quy định tại điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; từ Điều 32 đến Điều 39 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự:

- Các cơ quan của bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư khi thực hiện nhiệm vụ mà phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lí của mình thì có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lí lịch người phạm tội rõ ràng thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án;

Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiên hành hoạt động điều ứa ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về các học thuyết sinh học về tội phạm học ?

- Các cơ quan của bộ đội biên phòng có thẩm quyền điều tra các tội phạt quy định tại Chương XIII và các điều 150, 151, 152, 153, 188, 189, 192, 193, 195, 207, 227, 235, 236, 242, 247, 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255, 256, 303, 304, 305, 306, 309, 330, 337, 338, 346, 347, 348, 349 và 350 của BLHS xảy ra trong khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển, hải đảo và các vùng biển do bộ đội biên phòng quản lí;

+ Các cơ quan của hải quan có thẩm điều tra các tội phạm quy định tại các điều 188, 189, 190 của BLHS.

+ Các cơ quan của kiểm lâm có thẩm quyền điều tra tội phạm quy định tại các điều 232, 243, 244,245, 313 và 345 của BLHS.

+ Các cơ quan của lực lượng cảnh sát biển có thẩm điều tra tội phạm quy định tại Chương XIII và các điều 188, 189, 227, 235, 236, 237, 242, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 272, 273, 282, 284, 303, 304, 305, 309, 311, 346, 347 và 348 của BLHS xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do lực lượng cảnh sát biển quản lí.

+ Các cơ quan của kiểm ngư có thẩm quyền điều tra tội phạm quy định tại các điều 111, 242, 244, 245, 246, 305 và 311 của BLHS xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do kiểm ngư quản lí.

- Các cơ quan khác trong công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong hạn 7 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án.

+ Thẩm quyền điều tra của các cơ quan thuộc lực lượng an ninh trong công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra của công an nhân dân mà các cơ quan này phát hiện khi thực hiện nhiệm vụ của mình.

+ Thẩm quyền điều tra của các cơ quan thuộc lực lượng cảnh sát trong công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra mà các cơ quan này phát hiện khi thực hiện nhiệm vụ của mình.

+ Quyền hạn điều tra của các cơ quan khác trong quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Giám thị trại giam trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai, khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

>> Xem thêm:  Nội dung nghiên cứu của tội phạm học là gì ? Nhiệm vụ của tội phạm học là gì ?

Thủ trưởng đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương khi phát hiện những hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, xảy ra trong khu vực đóng quân của đơn vị thì có quyền lập biên bản phạm tội quả tang, lấy lời khai, khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội, áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ được thực hiện quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Sau khi ra quyết định khởi tố vụ án, áp dụng biện pháp ngăn chặn theo thẩm quyền, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi ngay các quyết định đó cho viện kiểm sát và thông báo cho cơ quan điều tra có thẩm quyền biết. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan điều tra có thẩm quyền có quyền yêu cầu cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển ngay hồ sơ vụ án để trực tiếp điều tra. Cắc yêu cầu của cơ quan điều tra có giá trị bắt buộc thi hành đối với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Các đơn vị cảnh sát nhân dân, an ninh nhân dân, kiểm soát quân sự có trách nhiệm hỗ trợ và thực hiện các yêu cầu của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên và của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong hoạt động điều tra.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tội phạm chiến tranh là gì ? Các phương pháp, phương tiện chiến tranh bị cấm