1. Cấu thành tội phạm là gì?
Cấu thành tội phạm được hiểu là tổng thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng bao gồm khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể được quy định trong Bộ Luật hình sự. Các yếu tố này là căn cứ để xác định tính nguy hiểm của tội phạm, tức là căn cứ vào dấu hiệu đó một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm.
Cấu thành tội phạm bao gồm các đặc điểm sau:
- Cấu thành tội phạm phải có các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan có tính chất bắt buộc; các dấu hiệu này phải phản ánh đúng bản chất của tội phạm để có thể phân biệt tội phạm này với tội phạm khác.
- Các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.
- Phải đáp các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm mới khẳng định hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cấm.
Các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: mặt chủ quan, mặt khách quan, khách thể, chủ thế
- Mặt khách quan: Là những biểu hiện của tội phạm ra ngoài thế giới khách quan, bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ giữa hành vi với hậu quả, phương tiện, công cụ, phương pháp, thời điểm,… thực hiện tội phạm. Thông qua biểu hiện bên ngoài của tội phạm có thể đánh giá được tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.
- Mặt chủ quan: Là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm được phản ánh qua hình thức động cơ, mục đích, động cơ phạm tội. Bất cứ tội phạm nào cũng thực hiện hành vi một cách có lỗi. Bao gồm lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý.
+ Cố ý phạm tội là người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là gây nguy hại cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hành vi đó sẽ xảy ra, hoặc cũng được xác định là lỗi cố ý khi người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiềm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn những vẫn có ý thức để mặc nó xảy ra.
+ Vô ý phạm tội là việc người phạm tội tuy thấy trước được hành vi của mình có thể gây nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; hoặc cũng được cho là có lỗi vô ý khi người phạm tội không thấy được hành vi của mình có thể gây ra nguy hại cho xã hội, mặc dù có thể thấy trước và có thể thấy hậu quả đó.
- Chủ thể của tội phạm: Là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của luật hình sự. Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự : Người từ 14 tuổi đến 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự với những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, người từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự với mọi loại tội phạm.
- Khách thể của tội phạm: Là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại ở mức độ đáng kể.
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm có 2 loại cấu thành tội phạm:
+ Cấu thành tội phạm hình thức;
+ Cấu thành tội phạm vật chất;
+ Cấu thành tội phạm cắt xén.
2. Cấu thành tội phạm vật chất
- Khái niệm: Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm mà có các dấu hiệu phạm tội bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại do hành vi này gây ra. Để xác định được hậu quả thiệt hại do hành vi gây ra cần phải chứng minh giữa hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hiểu một cách đơn giản, cấu thành tội phạm vật chất đòi hỏi phải có hậu quả xảy ra và hậu quả này xuất phát từ chính hành vi vi phạm.
Như vậy, cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm mà các dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, trong đó:
- Hành vi phạm tội là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
- Với tư cách là một yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm vật chất, thì chỉ những hành vi gây ra thiệt hại được mô tả trong luật hình sự mới bị coi là tội phạm.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm có cấu thành vật chất. Theo quy định của pháp luật, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và tội phạm được xét trên các nội dung sau: Hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian (đây là căn cứ đầu tiên cần thiết cho việc kiểm tra sự tồn tại của quan hệ nhân quả và trên thực tế khi kiểm tra căn cứ này thì trong vụ án cụ thể, nếu không thoả mãn căn cứ thì không có khả năng tồn tại quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả); Hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra phải là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của chính hành vi trái pháp luật. Hành vi trực tiếp gây ra hậu quả và hậu quả chính là hệ quả trực tiếp của hành vi. Lưu ý, trong quan hệ nhân quả, hành vi trái pháp luật được coi là nguyên nhân, tuy giữ vai trò quyết định đối với sự phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng hậu quả đó xảy ra hay không và xảy ra như thế nào còn phụ thuộc vào những “điều kiện” nhất định như khắc phục,.....
3. Phân biệt cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức
Việc phân biệt cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh. Theo đó, trong khi cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành mà trong mặt khách quan quy định có hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả, quan hệ nhân quả là dấu hiệu bắt buộc, cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành mà trong mặt khách quan chỉ quy định có hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc.
Trong thực tế, vì nhiều lý do khác nhau nằm ngoài ý chí của người phạm tội khiến cho người phạm tội hoặc sự chống trả quyết liệt của người bị hại mà hậu quả của tội phạm có thể xảy ra hay không xảy ra hoặc chưa bị xảy ra.
Việc thực hiện tội phạm do cố ý cũng phải được người phạm tội chuẩn bị phương thức, công cụ thực hiện hay cố tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho mình nên luật có qui định về các giai đọan thực hiện tội phạm như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hòan thành. Vì hai lý do trên và nhằm mục đích thuận tiện cho việc định tội danh lẫn truy cứu trách nhiệm hình sự với người phạm tội cho đúng mục đích hình phạt là răn đe, giáo dục và trừng phạt nên qui định về cấu thành tội phạm hình thức và cấu thành tội phạm vật chất là một trong những căn cứ cho việc thực hiện công tác trên.
Trên đây là các vấn đề về cấu thành tội phạm vật chất. Để hiểu nội dung pháp lý được đề cập về cấu thành tội phạm vật chất cũng như một số vấn đề khác có liên quan đến cấu thành tội phạm vật chất, tham khảo: Phân tích dấu hiệu hậu quả trong mặt khách quan của tội phạm?
Mọi thắc mắc về một số vấn đề có liên quan liên hệ 19006162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp chi tiết. Trân trọng!