1. Phản ứng theo độ tuổi của trẻ em khi bố mẹ ly hôn

Phản ứng của trẻ khi bố mẹ ly hôn là rất khác nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có độ tuổi. Dù ở độ tuổi nào thì cuộc ly hôn của bố mẹ cũng ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ.

- Từ 0 đến 3 tuổi

Trẻ có sự hiểu biết hạn chế về tình hình, nỗi buồn và sự căng thẳng của cha mẹ giúp trẻ ý thức được rằng có điều gì đó nghiêm trọng đang xảy ra. Trẻ có thể gặp phải vấn đề về giấc ngủ, thoái lui hoặc cáu kỉnh bất thường.

Điều quan trọng: Giữ nhịp sống hàng ngày: cho trẻ ăn, đi ngủ, thức dậy cùng một giờ như trước, những vật mà trẻ yêu thích và gắn bó, người chăm trẻ, …

- Từ 3 đến 6 tuổi

Ở lứa tuổi này, trẻ đã đi học mẫu giáo, tiếp xúc với các trẻ khác và những người lớn khác, như vậy trẻ đã có thêm một thế giới khác với thế giới của bố mẹ.

Điều quan trọng: Hãy chắc chắn rằng trẻ hiểu rằng sự tách biệt đã được xác định và không thay đổi, trẻ có thể sẽ cố gắng “an ủi” bố mẹ và cha mẹ cũng cần dành thời gian trả lời rất nhiều câu hỏi của trẻ.
Cần phải theo dõi những vấn đề như sự im lặng bất thường, hay cáu kỉnh, những rối loạn cơ thế như đau dạ dày, đau đầu…

- Từ 6 đến 10 tuổi

Trẻ nhận thức tốt hơn, hiểu được những thay đổi đang diễn ra. Bạn có thể thông qua giáo viên để hiểu thêm về phản ứng của trẻ và giáo viên cũng có thể trợ giúp trẻ vượt qua giai đoạn khó khăn này. Những vấn đề có thể gặp phải là khó khăn tỏng học tập, rối loạn cơ thể, mâu thuẫn với bố mẹ, hoặc mặc cảm tội lỗi (cho rằng bố mẹ ly hôn là do mình)
Điều quan trọng: Cần trao đổi với trẻ về cuốc sống mới, nơi trẻ sẽ sống, an ủi trẻ và nhấn mạnh rằng trẻ không có lỗi gì trong chuyện này.

- Từ 9 đến 12 tuổi

Ở tuổi này, trẻ tham gia nhiều hoạt động độc lập mà không có sự góp mặt của cha mẹ. Trường lớp, cộng đồng, tình bạn trở thành một phần cuộc sống của trẻ, song ảnh hưởng của gia đình vẫn rất quan trọng. Những dấu hiệu đáng cảnh báo ở nhóm tuổi này là trục trặc trong quan hệ bè bạn, cảm giác cô đơn, mất mát, khó chịu, bực bội, học hành sa sút,…

Nhìn chung, có những trẻ không biểu lộ cảm xúc vào thời điểm được bố mẹ thông báo nhưng các phản ứng không lời sẽ theo sau. Trẻ cũng có thể mất một thời gian dài để thích nghi với sự thay đổi này.

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn chính thức cuối cùng của chuyên gia tâm lý. Nếu có điều gì cần chia sẻ, trợ giúp về tâm lý quý khách hãy gọi đến tổng đài tư vấn tâm lý : 1900.6162 chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cùng bạn tháo gỡ khó khăn !

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Có thể ly hôn khi không có giấy đăng ký kết hôn không ?

Kính chào Luật Minh Khuê ! Em và chồng muốn giải quyết ly hôn thuận tình nhưng hồ sơ yêu cầu cần có giấy đăng ký kết hôn, mà hiện tại giấy đăng ký kết hôn đã bị thất lạc thì vợ chồng em có thế ly hôn được không?
Mong luật sư tư vấn giúp em !

Trả lời:

Theo quy định của Luật hộ tịch 2014Nghị định 123/2015/NĐ-CP, khi muốn ly hôn vợ chồng bạn phải nộp hồ sơ bao gồm đầy đủ những giấy tờ sau:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ( hoặc bản sao và lý do không có bản chính)

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của nguyên đơn và bị đơn;

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của nguyên đơn và bị đơn;

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

- Bản sao giấy khai sinh của các con.

Tuy nhiên với trường hợp của bạn, do bạn đã bị mất giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên theo quy định của pháp luật cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:

Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 1/1/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại”.

Do đó, để giải quyết việc ly hôn trước tiên bạn cần đến Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký kết hôn trước đây để nộp hồ sơ xin cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thủ tục này được quy định tại Điều 27 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015, cụ thể như sau:

1. Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:

a) Tờ khai theo mẫu quy định;

b) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bản sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.

2. Trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

3. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định tại Khoản 2 Điều này.

4. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 1/1 của năm đăng ký kết hôn trước đây”.

Sau khi được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, vợ chồng bạn vẫn có quyền nộp đơn xin ly hôn gửi lên tòa án cấp có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết.

Trường hợp vẫn còn thông tin trên sổ hộ tịch thì tư pháp hộ tịch sẽ cấp trích lục giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì cá nhân xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân cho cơ quan đăng ký hộ tịch căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật hộ tịch 2014.

" Điều 9. Phương thức yêu cầu và tiếp nhận yêu cầu đăng ký hộ tịch

1. Khi yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch, cá nhân nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan đăng ký hộ tịch hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc gửi qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến.

2. Khi làm thủ tục đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch, cá nhân xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh nhân thân.

3. Đối với những việc đăng ký hộ tịch có quy định thời hạn giải quyết, thì người tiếp nhận hồ sơ phải viết giấy tiếp nhận; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, không hợp lệ thì phải hướng dẫn bằng văn bản để người đi đăng ký hộ tịch bổ sung, hoàn thiện. Văn bản hướng dẫn phải ghi đầy đủ, rõ ràng loại giấy tờ bổ sung.

Trường hợp người có yêu cầu nộp hồ sơ không đúng cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người tiếp nhận hướng dẫn người đi đăng ký hộ tịch đến cơ quan có thẩm quyền để nộp hồ sơ."

Thứ hai, nếu thiếu chứng minh nhân dân có thể xuất trình các giấy tờ thay thế được hướng dẫn chi tiết và cụ thể tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP.

" Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú."

Như vậy, nếu thiếu chứng minh nhân dân, bạn có thể xuất trình một trong các giấy tờ như: hộ chiếu, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

3. Nếu vợ chồng tôi ly hôn thì tài sản được chia như thế nào ?

Xin chào luật sư ! Vợ chồng tôi lấy nhau từ năm 2004, đến nay đã được 11 năm. Trong quá trình chung sống , vợ chồng tôi không thể hòa hợp với nhau về nhiều mặt. Cụ thể : bất cứ chuyện gì trong gia đình tôi muốn bàn bạc với chồng tôi nhưng chồng tôi đều lảng tránh không biết hoặc xưng hô những từ không mấy lịch sự, làm bất cứ việc gì chồng tôi không bao giờ bàn bạc với tôi, đi công tác ở đâu chồng tôi chưa bao giờ nói với tôi bao giờ. Ngoài ra, khi vợ chồng xảy ra xích mích nhỏ, chồng tôi đều lôi bố mẹ tôi ra xúc phạm, vì từ nhỏ tôi đã mồ côi cha, bố mẹ tôi sống không hạnh phúc bố tôi đã tự tử, chồng tôi nói tôi giống mẹ tôi sống ác nên bố tôi mới chết , tôi nói lại thì chồng tôi đánh tôi một cách không thương tiếc. Vợ chồng tôi đã có với nhau hai đứa con gái, một cháu 10 tuổi, một cháu 22 tháng. Chồng tôi lái xe tại bệnh viện, còn tôi là giáo viên. Hiện tại chúng tôi có hai mảnh đất : một mảnh, vợ chồng tôi đang chung sống, mảnh còn lại tôi đứng tên vay ngân hàng, chồng tôi cũng vay với số tiền 50 triệu, số còn lại là tôi đang nợ.
Ngoài ra, vợ chồng tôi có 02 chiếc xe máy. Vậy tôi muốn hỏi luật sư nếu vợ chồng tôi ly hôn thì tài sản được chia như thế nào ?
Xin cảm ơn luật sư !
Người gửi: T.H

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào khoản 1,điều 59, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.”

Vậy, khi vợ chồng chị ly hôn, tài sản sẽ được chia theo hai trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất: nếu vợ chồng chị có thể thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản thì tài sản sẽ được chia theo thỏa thuận của hai bên. Lưu ý rằng, thỏa thuận này của vợ chồng chị phải đảm bảo nguyên tắc giải quyết ly hôn theo điều 59.

Trường hợp thứ hai: vợ chồng chị không thể thỏa thuận được thì chị có thể yêu cầu tòa án giải quyết.Khi đó, căn cứ vào quy định của pháp luật số tài sản sẽ được giải quyết như sau:

Đầu tiên, phải xác định xem tài sản hiện có là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ , chồng chị. Để xác định được điều này, cần căn cứ vào hai cơ sở pháp lý sau:

Theo khoản 1, khoản 3, điều 33, luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Theo điều 43 quy định về tài sản riêng của luật này:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Tiếp theo, dựa vào nguyên tắc chia tài sản theo khoản 2, điều 59 , luật hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết:

“2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Như vậy, dựa theo nguyên tắc trên, nếu hai mảnh đất và hai chiếc xe máy hiện vợ chồng chị có, nếu có căn cứ cho rằng đó là tài sản chung sẽ được chia đôi và có tính đến các yếu tố nêu trên.Ngược lại, nếu số tài sản trên được xác định là tài sản riêng của hai người thì khi chia tài sản riêng của người nào thuộc quyền sở hữu của người đó .

Mặt khác, như chị đã trình bày ở trên thì chồng chị đã có những lời nói thiếu tôn trọng, thậm chí đánh chị một cách “không thương tiếc”.Như vậy,chồng chị đã vi phạm nghĩa vụ "tôn trọng danh dự,nhân phẩm,uy tín của vợ,chồng" theo điều 21, luật hôn nhân và gia đình 2014 .Do đó, khi tiến hành giải quyết, chị sẽ được tòa án xem xét đến vấn đề lỗi của chồng chị trong vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại điểm d, khoản 2, điều 59 để được chia tài sản một cách xứng đáng. Bên cạnh đó, một trong những nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn là phải “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Do vậy, khi ly hôn và tiến hành chia tài sản, chị sẽ luôn là người được Tòa án quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Liệu có phải chia cửa hàng sau khi ly hôn không ?

Thưa luật sư, Dì của em lấy chồng rất lâu. Trong khi kết hôn, bà ngoại em có cho dì 1 căn nhà để 2 vợ chồng ở. Lúc đầu giấy tờ dì em đứng tên vì đó là quà cưới của bà ngoại cho dì. Nhưng sau 1 lần có tin thay sổ, chồng của dì em đã tự nguyện đi làm giấy tờ và sổ hồng ghi tên cả dì lẫn dượng.
Dì em định đi làm lại sổ nhưng không có thời gian. Giờ hai vợ chồng muốn ly hôn. Vì dì nhiều lần bị chồng ngược đãi tinh thần, bây giờ dượng bỏ nhà đi lần nữa, không phụ giúp dì nuôi con ăn học. Dì em muốn ly hôn nhưng tài sản duy nhất là căn nhà không biết phải làm sao. Không chia cho dượng sau khi ly hôn có được không? Nó là tài sản riêng hay tài sản chung? Dì em hiện mở cửa hàng kinh doanh tại nhà để nuôi dạy 2 con đi học. Vì chồng dì không đưa tiền sinh hoạt nữa. Tiền mở tiệm do mẹ em cho dì mượn riêng. Liệu có phải chia sau khi ly hôn không?
Mong quý vị hồi đáp sớm cho em. Chân thành cám ơn!
Người gửi: H.T

Liệu có phải chia cửa hàng sau khi ly hôn không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung vợ chồng được quy định như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Với trường hợp của dì bạn, sau 1 lần có tin thay sổ, chồng của dì bạn đã tự nguyện đi làm giấy tờ và sổ hồng ghi tên cả dì lẫn dượng mà không có sự đồng ý của dì bạn mặc dù đây vốn là tài sản riêng của dì bạn. Theo đó, dù trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi tên cả hai vợ chồng thì về bản chất, nếu không có sự đồng ý của dì bạn chuyển tài sản đó thành tài sản chung thì quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất này vẫn là tài sản riêng của dì bạn. Tuy nhiên, vấn đề là dì bạn phải chứng minh được rằng dì bạn chưa từng đồng ý đưa quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất này vào tài sản chung vợ chồng. Khi chứng minh được đây là tài sản riêng của dì bạn thì sẽ không phải chia cho dượng của bạn khi ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này."

Về tiền mở tiệm do mẹ bạn cho dì mượn riêng: đây được coi là tài sản riêng của dì bạn và không phải chia cho dượng bạn khi ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Phần nợ vay ngân hành khi ly hôn giải quyết thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi hai ý :
+ Khi ly hôn số nợ do hai vợ chồng đứng tên ký vay ngân hàng làm kinh doanh sẽ được giải quyết như thế nào ?
+ Vợ chồng tôi có mảnh đất đã có sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng . thì tài sản đó được giải quyết ra sao ?
Xin chân thành cảm ơn!
Người hỏi: Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trả lời:

* Về câu hỏi thứ nhất: Khi ly hôn số nợ do hai vợ chồng đứng tên ký vay ngân hàng làm kinh doanh sẽ được giải quyết như thế nào ?

Điều 30 và điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên."...

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan"

Như vậy, theo quy định thì vợ chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm về giao dịch đó, trừ trường hợp vợ chồng bạn và ngân hàng đó có thỏa thuận khác.

* Về câu hỏi thứ hai: Vợ chồng tôi có mảnh đất đã có sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng thì tài sản đó được giải quyết ra sao ?

Trong trường hợp này, mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng bạn, theo quy định tại điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giải quyết dựa trên các căn cứ quy định tại điều 59 Luật này:

"Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình....

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

6. Không nhận được quyết định ly hôn phải làm sao ?

Xin được công ty luật Minh Khuê tư vấn: Tôi hiện nay 38 tuổi, đã có gia đình và 2 con. Nhưng do cuộc sống vợ chồng không hợp nhau nữa nên chúng tôi đã ly thân được 2 năm rồi. Và chúng tôi đã thống nhất với nhau ra toà làm thủ tục ly hôn, ra toà án đã hoà giải lần 1 không thành, đến hẹn ra toà lần thứ 2 thì toà đồng ý cho vợ chồng tôi ly hôn và hẹn đúng 8 ngày sau đến lấy quyết định ly hôn.
Tôi không bắt chồng tôi phải chu cấp gì hết, và chồng tôi được quyền thăm con bình thường (vì 2 con tôi ở với tôi), nhưng đến ngày tôi đi lấy quyết định thì cha ruột của tôi xuống toà lấy trước tôi rồi (vì có sự quen biết và thân thiết nên toà đã đưa quyết định cho cha tôi). Trong hoàn cảnh này tôi phải làm sao và bằng cách nào để xin quý toà cho tôi nhận được quyết định từ toà án? thủ tục pháp lý ra sao?
Xin trân trọng cảm ơn.
Người gửi: H.V

Không nhận được quyết định ly hôn phải làm sao ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 315 và Điều 241 Bộ luật Tố tụng dân sự 2005:

“Điều 241 Cấp trích lục bản án

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên toà, các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện được Toà án cấp trích lục bản án.

2. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án, Toà án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp”.

“Điều 315. Quyết định giải quyết việc dân sự

1. Quyết định giải quyết việc dân sự phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Toà án ra quyết định;

c) Họ, tên của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án;

d) Tên, địa chỉ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự;

đ) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết;

e) Tên, địa chỉ của người có liên quan;

g) Nhận định của Toà án và những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu;

h) Căn cứ pháp luật để giải quyết việc dân sự;

i) Quyết định của Toà án;

k) Lệ phí phải nộp.

2. Quyết định giải quyết việc dân sự phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án có thẩm quyền, người yêu cầu giải quyết việc dân sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định đó trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.”

Trong trường hợp này, bạn là đương sự trong vụ việc ly hôn nên sẽ được Tòa án cấp trích lục bản án, quyết định giải quyết việc dân sự. Cha ruột của bạn không phải là người thuộc diện được nhận trích lục bản án và quyết định giải quyết việc ly hôn và cũng không được bạn ủy quyền nên hoàn toàn không thể đến nhận thay bạn. Do đó, bạn vẫn có thể đến xin tòa cấp quyết định trên cho bạn. Nếu tòa án không cấp quyết định giải quyết việc ly hôn cho bạn thì bạn có quyền khiếu nại hành vi này đến chánh án tòa án nơi giải quyết việc ly hôn của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?