- 1. Mở đầu vấn đề
- 2. Khái quát quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong pháp luật nội dung
- 3. Quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong pháp luật thương mại
- a. Thương lượng
- b. Hòa giải
- c. Trọng tài thương mại
- d. Tòa án
- 4. Quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong pháp luật Đầu tư
- 5. Kết thúc vấn đề
Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy cho tôi biết, hiện nay pháp luật nội dung của Việt Nam quy định như thế nào về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Mở đầu vấn đề
Việt Nam theo trường phái Nghị nguyên trong việc xác định mối quan hệ giữa pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Do đó, với quan niệm các điều ước quốc tế về đầu tư mà Việt Nam là thành viên thuộc lĩnh vực pháp luật quôc tế, pháp luật Việt Nam về cơ chế ISDS chỉ gồm những quy định liên quan trong hệ thông văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước Việt Nam có thẩm quyền ban hành.
Theo đó, pháp luật Việt Nam về ISDS so với pháp luật quốc tế còn có khoảng cách khá xa. Cho đến nay, quy định ISDS của Việt Nam khá sơ sài ở cả pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng (thủ tục), chưa tiếp thu hoặc nội luật hóa được những quy định tiến bộ của cơ chế ISDS trong pháp luật quốc tế. Do đó, ít tìm thấy trong các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư và tố tụng dân sự, hành chính những quy định trực tiếp, rõ ràng điều chỉnh ISDS.
2. Khái quát quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong pháp luật nội dung
- Luật Thương mại năm 2005, sửa đổi năm 2017, 2019 chỉ có quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 317 về việc tranh chấp thương mại (gồm cả đầu tư) được giải quyết bằng các phương thức: "Thương lượng giữa các bên; hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải và giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án..."
Tuy nhiên, cũng theo Điều 317, thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài, tòa án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của trọng tài, tòa án do pháp luật quy định. Với lời văn của Điều 317 nêu trên, thì tòa án, trọng tài có thẩm quyền giải quyết ở đây là tòa án, trọng tài trong nước, trừ các tranh chấp theo cam kết tại điều ưóc quốc tế, thỏa thuận quốc tế được giải quyết ở cơ quan tài phán nước ngoài hay trọng tài quốc tế.
Liên quan pháp luật trong lĩnh vực đầu tư, khoản 4 Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014 quy định tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua trọng tài Việt Nam hoặc tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định khác.
Như vậy, theo quy định này, tranh chấp giữa nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài không được Luật Đầu tư năm 2014 điều chỉnh. Do đó, có thể kết luận, pháp luật nội dung trong nước cơ bản không quy định trực tiếp việc sử dụng cơ chế ISDS, ngoại trừ các quy định có thể diễn giải là cho phép ISDS tại tòa án, trọng tài Việt Nam như trên đã phân tích. Tuy nhiên, theo Luật Điều ước quốc tế năm 2016, quy định ISDS trong điều ước quốc tế về đầu tư của Việt Nam có thể được áp dụng trực tiếp.
Lưu ý, liên quan đến hợp đồng, thỏa thuận đầu tư ký giữa Chính phủ Việt Nam với cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng có quy định về giải quyết tranh chấp giữa các bên. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, đây là hợp đồng, thỏa thuận giữa cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tức cơ quan nhà nước cụ thể) với nhà đầu tư nước ngoài, chứ không phải là hợp đồng giữa Nhà nước Việt Nam nói chung với nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, giải quyết loại tranh chấp này không phải là ISDS.
3. Quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong pháp luật thương mại
"Điều 317. Hình thức giải quyết tranh chấp
1. Thương lượng giữa các bên.
2. Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
3. Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định."
=> Vậy theo Luật thương mại, có quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 317 về việc tranh chấp thương mại (gồm cả đầu tư) được giải quyết bằng các phương thức sau:
a. Thương lượng
Là hình thức giải quyết tranh chấp bằng việc các bên tranh chấp gặp nhau để thỏa thuận, bàn bạc để tự tìm ra phương hướng giải quyết mâu thuẫn mà không có bất kì bên thứ ba nào có mặt. Đặc trưng của biện pháp này là phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí, sự tự nguyện của mỗi bên mà không chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc pháp lý. Không có cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi những thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng. Do đó, tính bảo mật về thông tin của các bên được đảm bảo.
b. Hòa giải
Là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp để giải quyết mâu thuẫn. Giống như thương lượng, hòa giải cũng không chịu sự chi phối của bất kỳ cơ chế pháp lý nào mà do các bên tranh chấp tự quyết định. Tuy nhiên, hòa giải có thêm sự hiện diện của bên thứ ba, còn gọi là hòa giải viên, tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp. Hòa giải viên có vai trò hỗ trợ, giúp đỡ các bên tìm ra giải pháp tốt nhất. Ý kiến của hòa giải viên chỉ mang tính chất tham khảo cho các bên.
c. Trọng tài thương mại
Là hình thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận lựa chọn và được tiến hành theo quy định của pháp luật. Trong hình thức này, sẽ có một Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là một bên trung gian, độc lập nhằm giải quyết các mẫu thuẫn, tranh chấp giữa các bên. Phán quyết của trọng tài có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên và là phán quyết chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, phán quyết này có thể bị tòa án xem xét hủy nếu không hợp lệ. Hình thức giải quyết tranh chấp này giúp bảo đảm bí mật thông tin của các bên, do quá trình xét xử bằng trọng tài là xét xử kín. Mặt khác, chi phí giải quyết tranh chấp trong trọng tài thương mại thường rất cao.
d. Tòa án
Là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết. Quy trình giải quyết tranh chấp bằng tòa án phải tuân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng. Đồng thời, bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng hệ thống cơ quan thi hành án của nhà nước. Trên thực tế, khi các biện pháp thương lượng, hòa giải, trọng tài không đem lại kết quả, các chủ thể mới lựa chọn đến Tòa án giải quyết.
4. Quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong pháp luật Đầu tư
- Cơ sở pháp lý: Khoản 4 điều 14 Luật đầu tư năm 2014.
"Điều 14. Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh
1. Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
2. Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc giữa nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:
a) Tòa án Việt Nam;
b) Trọng tài Việt Nam;
c) Trọng tài nước ngoài;
d) Trọng tài quốc tế;
đ) Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập.
4. Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác."
=> Vậy, liên quan pháp luật trong lĩnh vực đầu tư, khoản 4 Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014 quy định tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua trọng tài Việt Nam hoặc tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định khác.
5. Kết thúc vấn đề
Như đã phân tích ở trên, tranh chấp giữa nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài không được Luật Đầu tư năm 2014 điều chỉnh. Do đó, có thể kết luận, pháp luật nội dung trong nước cơ bản không quy định trực tiếp việc sử dụng cơ chế ISDS, ngoại trừ các quy định có thể diễn giải là cho phép ISDS tại tòa án, trọng tài Việt Nam như trên đã phân tích. Tuy nhiên, theo Luật Điều ước quốc tế năm 2016, quy định ISDS trong điều ước quốc tế về đầu tư của Việt Nam có thể được áp dụng trực tiếp.
Tuy nhiên, chúng ta nên lưu ý, liên quan đến hợp đồng, thỏa thuận đầu tư ký giữa Chính phủ Việt Nam với cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng có quy định về giải quyết tranh chấp giữa các bên. Tuy nhiên, ở đây là hợp đồng, thỏa thuận giữa cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tức cơ quan nhà nước cụ thể) với nhà đầu tư nước ngoài, chứ không phải là hợp đồng giữa Nhà nước Việt Nam nói chung với nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, giải quyết loại tranh chấp này không phải là ISDS.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).