1. Nữ quyền là gì?

Nữ quyền, tức quyền nữ giới hay quyền phụ nữ, là các quyền lợi bình đẳng giới được khẳng định là dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã hội trên thế giới.

Nữ quyền về bản chất là sự công bằng, bình đẳng giữa nam giới và nữ giới. Nhiều người tranh luận rằng nữ giới không giống nam giới, nên không thể nào bình đẳng được. Cơ thể của nữ giới và nam giới cũng khác nhau (nhiều người cho rằng người phụ nữ thường nhỏ và “yếu đuối” hơn đàn ông), chính bởi về mặt thể chất không giống nhau đó nên có những quan điểm cho rằng sự bình đẳng về mặt thể chất là điều không tưởng.

Cần phải hiểu rằng “giống nhau” không có nghĩa là “công bằng”. Vấn đề ở đây là nam và nữ đều có quyền bình đẳng và quyền tiếp cận với các cơ hội như nhau. Tình trạng thể chất khác nhau không có nghĩa là không được có những quyền bình đẳng như nhau.

2. Quan điểm về nữ quyền trong thời kỳ phong kiến cận đại

Thật là trái với lý trí và trái cả tự nhiên khi mà đàn bà làm chủ trong gia đình như chuyện ở Ai Cập; nhưng chuyện đàn bà cầm đầu cả quốc gia thì chẳng có gì là trái với lý trí và trái tự nhiên.

Trong thế giới cổ đại, Ai Cập là quốc gia mà người phụ nữ được nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị, thậm chí trở thành nữ hoàng cai trị đất nước. Quan hệ nam nữ trong xã hội Ai Cập cổ đại là quan hệ bình đẳng từ các mối quan hệ xã hội tới gia đình. Đây là điều mà tới tận thời nay, phụ nữ nhiều nước trên thế giới vẫn đang đấu tranh để giành lại.

Trong vòng hơn 3.000 năm, Ai Cập cổ đại có tới 7 người phụ nữ nắm giữ quyền lực chính trị to lớn, cai quản một trong những nền văn minh vĩ đại nhất nhân loại. Để so sánh, trong suốt lịch sử của nước Mỹ chưa hề có một nữ Tổng thống nào, điều này cho thấy nữ quyền thời Ai Cập cổ đại đã đạt tới đỉnh cao. Neithhotep được biết đến là một nữ hoàng Ai Cập cổ đại sống dưới Vương triều thứ nhất (Vương triều đầu tiên sau khi Thượng và Hạ Ai Cập thống nhất).

Không chịu thua kém các Pharaon nam trong việc trị vì đất nước, những Nữ hoàng Ai Cập cổ đại thậm chí làm được nhiều điều mà các vị vua trước đó không thể. Điển hình như nữ hoàng Hatshepsut, trong suốt 21 năm nắm giữ quyền lực bà đã khôi phục mạng lưới thương mại từng bị ngắt quãng trong thời Hyksos chiếm đóng Ai Cập, từ đó tạo ra nguồn của cải bất tận cho quốc gia sông Nile. Bà đã đưa Ai Cập trở thành một quốc gia hùng mạnh, thịnh vượng và giàu có.

Bà đã cho mở rộng giao thương xuống phía Nam vốn bị gián đoạn bởi chiến tranh, nhờ đó tạo lập sự thịnh vượng cho Vương triều thứ 18. Bà đã thành lập một đội quân gồm toàn nữ thủy thủ, có nhiệm vụ thám hiểm vùng đất Punt (Nam châu Phi). Đoàn thám hiểm lên đường nhân danh bà trên 5 con tàu, mỗi tàu dài 21m với nhiều cột buồm và có 210 người gồm các thuỷ thủ và 30 tay chèo. Nhiều hàng hoá trao đổi được mang theo tới Punt, đáng chú ý nhất là nhựa thơm.

>> Xem thêm:  Cư trú chính trị là gì ? Những người được hưởng quyền cư trú chính trị

Chính đội quân này đã mang về Ai Cập nhiều hàng hóa có giá trị: gỗ mun, vàng, những động vật hiếm và cây cảnh lạ. Trong đó phải kể tới việc người người Ai Cập đã mang theo về từ chuyến đi này 31 cây hương trầm sống, rễ của chúng được giữ cẩn thận trong những chiếc giỏ trong suốt chuyến hành trình. Đây là nỗ lực đầu tiên được ghi nhận trong việc di thực cây cối từ nước ngoài. Một lời ca ngợi bên dưới bức điêu khắc trong đền thờ của bà: “Chưa từng có vị vua nào trong lịch sử có thể mang về cho đất nước mình nhiều thứ như thế”.

Ở trong nhà, người đàn bà mềm yếu nên không được phép nắm quyền. Còn như việc nước thì người đàn bà giỏi dang, mềm yếu nhưng thường có đức tính dịu dàng và mức độ vừa phải khiến cho nền cai trị được tốt hom là đức tính cứng rắn và hung bạo của đàn ông.

Ở Ấn Độ người ta thấy đàn bà cai trị là tốt. Có lẽ rằng nếu hoàng tử không cùng dòng máu với nữ hoàng thì công chúa đích danh con của Nữ hoàng sẽ lên ngôi. Người ta sẽ đặt một vài người năng cán giúp nàng đảm đưoìig gánh nặng quốc gia.

Theo sách "Du lịch ở Guinée" của M. Smith thì đàn bà ở châu Phi cai trị đất nước cũng rất hay.

Còn như ở Nga và ở Anh, các nữ hoàng thành công cả trong chính thể chuyên chế và trong chính thể quân chủ ôn hoà.

Chúng ta hay biết đến quyền lực của phụ nữa trong chế độ mẫu hệ ở một số quốc gia. Chế độ mẫu hệ là dấu vết của mối quan hệ họ hàng qua dòng nữ. Nó cũng có thể tương quan với một hệ thống xã hội trong đó mỗi người được xác định bằng mẫu hệ – mẹ của họ - dòng dõi của bên mẹ - và có thể liên quan đến việc thừa kế tài sản và/hoặc quyền sở hữu.

Còn ở Việt Nam chế độ mẫu hệ từng tồn tại minh chứng rõ ràng nhất là “Đạo Mẫu” với tín ngưỡng tôn thờ nữ thần, thờ Thánh Mẫu, thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ xuất hiện khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Cho đến ngày nay nhiều dân tộc vùng Tây Nguyên còn giữ nét văn hóa về chế độ mẫu hệ như người Ê-đê.

3. Quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giới

Chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay đã cụ thể hóa Công ước quốc tế (CEDAW - Công ước xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ) và thể hiện đầy đủ 8 lĩnh vực của bình đẳng giới (BĐG): chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa – thông tin – thể dục – thể thao, y tế, gia đình 1. BĐG và quyền phụ nữ là quyền hiến định. Nguyên tắc bình đẳng đã được khẳng định ngay trong Điều 26 Hiến pháp năm 2013: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội Bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

Nội dung BĐG cũng được quy định trong các luật và bộ luật điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 tại Điều 2 quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này”. Ngoài ra, khoản 3 Điều 8 của Luật cũng nêu rõ: “số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ”.

>> Xem thêm:  Chế độ chính trị là gì ? Mối quan hệ giữa nhà nước với Đảng chính trị, tổ chức xã hội

Trong lĩnh vực y tế, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, tại Điều 3 quy định “bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh”. Về giáo dục, tại khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục năm 2019 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “vợ chồng bình đẳng”.

Trong lĩnh vực lao động, khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Bảo đảm Bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên”. Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có một chương dành riêng cho lao động nữ và vấn đề BĐG nhằm bảo vệ sức khỏe sinh sản của họ trong khi làm việc (Chương X).

Luật BĐG năm 2006 đánh dấu bước phát triển về thể chế và hệ thống hóa trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam bằng việc tăng cường BĐG trong đời sống cá nhân và xã hội. Bên cạnh những văn bản trên, BĐG còn được thể hiện trong nhiều văn bản khác như: Chương trình hành động của Chính phủ, Chiến lược quốc gia về BĐG và các văn bản khác.

Trong triển khai thực thi chính sách, pháp luật bảo đảm BĐG, những biện pháp thúc đẩy BĐG quy định trong Luật BĐG có thể đã được quy định hoặc chưa được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam.

4. Quyền tham chính của phụ nữ tại Việt Nam

Nâng cao quyền của phụ nữ trong đời sống chính trị - xã hội là một cam kết chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam với nhân dân và thế giới. Trong chủ trương, đường lối và chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề phát triển phụ nữ như là một giải pháp phát triển xã hội bền vững, là tương lai tốt đẹp của đất nước.

Đối với vấn đề phát triển phụ nữ nói chung, Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết số 11/NQ-TW) đã chỉ rõ “Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý có tỷ lệ thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ, nguồn cán bộ nữ hẫng hụt, ở một số lĩnh vực, tỷ lệ cán bộ nữ sụt giảm”.

Để tạo lập sự bình đẳng thực sự, khoản 1 và khoản 3 Điều 26 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới” và “Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Để tạo lập quyền được ưu tiên, khoản 2 Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”. Từ đạo luật cơ bản này, sự bình đẳng và quyền được ưu tiên của phụ nữ đã được thiết lập. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc nhất cho mọi hoạt động lập pháp và thực thi pháp luật trong bảo đảm sự bình đẳng và bảo đảm sự ưu tiên đối với phụ nữ trên thực tế.

Trong những năm vừa qua, nhận thức của xã hội về vấn đề bình đẳng giới đã có những biến đổi theo chiều hướng tích cực. Hoạt động lập pháp đã cân nhắc đến nhiều yếu tố nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật, từng bước hình thành và nâng cao nhận thức trong mọi giai tầng xã hội nhằm xoá bỏ quan điểm, tâm lý và thực trạng phân biệt đối xử bất bình đẳng giới trong công việc, trong đời sống chính trị, văn hoá - xã hội và trong từng gia đình. Đối với người phụ nữ, do có điểm đặc biệt là mang thiên chức làm mẹ - đặc tính này không có ở đàn ông (tự nhiên), nên luật pháp đã tính đến sự ưu tiên, ưu đãi trên một số phương diện mà người phụ nữ dễ chịu sự tác động từ thiên chức của mình như trong tuyển dụng, bố trí công việc, thời gian giờ giấc làm việc, độ tuổi hưởng bảo hiểm xã hội, thành lập các quỹ hỗ trợ vay vốn ưu đãi, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, thậm chí là cả ưu ái trong xử lý hình sự khi phụ nữ vi phạm pháp luật… Các quy định này có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có cơ hội thể hiện khả năng của mình để phát triển trong công việc, đồng thời tạo chuyển biến về nhận thức của xã hội đối với vị trí, vai trò của người phụ nữ để phụ nữ có thể đóng góp ngày càng nhiều cho gia đình, xã hội, đất nước và loài người.

Bên cạnh đó, các quy định trong Công ước quốc tế về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Công ước CEDAW) đã được từng bước nội luật hoá trong quá trình xây dựng pháp luật và các chính sách có liên quan đến phụ nữ. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều các luật có liên quan đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ như: Luật Bình đẳng giới năm 2006; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật Hình sự năm 2015 và sửa đổi, bổ sung năm 2017; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015… và nhiều luật khác. Trong các văn bản luật trên đây, quyền của phụ nữ, trẻ em gái đã được ghi nhận, về cơ bản đảm bảo sự phù hợp với Công ước CEDAW, cũng như truyền thống pháp lý tốt đẹp của dân tộc nhằm hướng tới đạt mục tiêu và các chỉ tiêu bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ mà chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đã đặt ra.

>> Xem thêm:  Hệ thống chính trị là gì ? Đặc điểm của hệ thống chính trị ?

5. Thực trạng vị trí của phụ nữ trong hoạt động chính trị tại Việt Nam

Nghị quyết số 11/NQ-TW đưa ra chủ trương: “Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”. Trước khi có chủ trương này, Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/01/2002 về việc Phê duyệt chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, cũng đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể như: “Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia HĐND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2004-2009 là 28% và nhiệm kỳ tiếp theo là 30%; cấp quận, huyện nhiệm kỳ 2004-2009 là 23% và nhiệm kỳ tiếp theo là 25%; cấp xã, phường nhiệm kỳ 2004 - 2009 là 18% và nhiệm kỳ tiếp theo là 20%”. “Phấn đấu đạt tỷ lệ 50% cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương và địa phương có nữ tham gia ban lãnh đạo vào năm 2010”. Tuy nhiên, cho đến năm 2007, tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý vẫn rất thấp, bị hẫng hụt, sụt giảm về số lượng như trong Nghị quyết số 11/NQ-TW đã chỉ rõ. Đến năm 2017, theo Báo cáo tóm tắt việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới của Chính phủ thì trong 22 chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 (Chiến lược quốc gia 2011 - 2020) thì chỉ có 8 chỉ tiêu dự kiến sẽ đạt vào năm 2020[4] và có “02 chỉ tiêu thực hiện theo nhiệm kỳ 2016 - 2021 không đạt gồm: Chỉ tiêu nữ tham gia các cấp uỷ Đảng, đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp và chỉ tiêu lãnh đạo chủ chốt là nữ”. Hai chỉ tiêu trong Báo cáo này của Chính phủ đã phản ánh rõ thực trạng nhiều quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước chưa được thực sự đi vào cuộc sống ở cả cấp trung ương, bộ ngành, địa phương. Quy định về tỷ lệ % phụ nữ tham chính trong xây dựng đảng, chính quyền nhà nước đã không được đảm bảo ở nhiều địa phương. Cụ thể, trong các hoạt động bầu, cử vào các cơ quan Đảng, chính quyền nhà nước: “nhiều nơi, không có cán bộ nữ được bầu giữ các chức danh bí thư, phó bí thư như Cao Bằng, Điện Biên, Đắk Nông, Quảng Bình, Vĩnh Long… Một số đảng bộ như Thái Bình, Khánh Hòa, Hậu Giang, Bình Định không có cán bộ nữ tham gia ban thường vụ”.

Trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 đã đặt ra 7 mục tiêu và mục tiêu đầu tiên là tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Trong đó, chỉ tiêu 1 của mục tiêu này là: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 - 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 35%. Tuy nhiên, các con số trong bảng thống kê dưới đây cho thấy thực tế diễn biến rất chậm chạp:

Nội dung

Nhiệm kỳ

2006- 2010

Nhiệm kỳ

2010- 2015

Nhiệm kỳ

2015-2020

Tỉnh

Huyện

Tỉnh

Huyện

Tỉnh

Huyện

Ủy viên Ban Thường vụ

7,9

7,8

5,8

8,3

10,2

9,1

10,7

12,0

10,7

Ủy viên Ban Chấp hành

11,8

14,7

14,4

11,3

15,2

18,0

13,3

14,3

19,69

Bảng thống kê trên đây cho thấy tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy các cấp cơ bản khóa sau tăng hơn khóa trước nhưng tăng chậm và tỷ lệ không có tính tăng đột biến. Trong đó tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ cấp xã nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đạt mức gần 20% (tăng khoảng 2% so với nhiệm kỳ trước đó). Tuy nhiên, tỷ lệ nữ cán bộ trong cơ quan trọng yếu nhất của đảng ở cấp trung ương cũng vẫn rất thấp. Tham gia cấp uỷ Bộ Chính trị, nữ uỷ viên Bộ Chính trị mới chỉ đạt 3/19 uỷ viên và tham gia Ban chấp hành Trung ương đảng là 15 uỷ viên nữ (đạt 7,8%) so với uỷ viên nam là 166 người (đạt 92,2%).

6. Kiến nghị nâng cao vai trò của phụ nữ trong hoạt động chính trị

Để bảo đảm thực hiện tốt chiến lược về tăng cường số lượng phụ nữ tham chính, chúng tôi cho rằng, cần phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, cần nâng cao hiệu quả nhận thức về vấn đề giới, bình đẳng giới cho các cấp bộ ngành, địa phương. Thực tế ở Việt Nam từ lịch sử cổ đại đến hiện đại, đều cho thấy nữ giới có đủ khả năng gánh vác các trọng trách như nam giới trên mọi phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, nên nếu có những vấn đề nhận thức lệch lạc về giới, về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, cũng như ngoài xã hội từ phía cán bộ trong các cấp bộ, ngành, địa phương thì cần phải áp dụng các biện pháp xử lý thích đáng nhằm ngăn ngừa và chấm dứt các hiện tượng đó. Đặc biệt, cần thiết phải sử dụng kỷ luật đảng để giải quyết các trường hợp không đảm bảo các chỉ tiêu, yêu cầu về giới trong quá trình tổ chức xây dựng đảng và chính quyền nhà nước, trong đó cần chú trọng xử lý các trường hợp làm giảm khả năng hay cản trở sự tham chính của người phụ nữ.

Thứ hai, luật hóa tỷ lệ % phụ nữ tham chính trong tổ chức chính quyền nhà nước từ trung ương đến cơ sở; sửa đổi Luật Bình đẳng giới theo hướng xóa bỏ các thuật ngữ định tính như bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phù hợp với mục tiêu quốc gia vềbình đẳng giới mà cần phải đặt ra số lượng cụ thể tương ứng với % phụ nữ cả nước, địa phương để thực thi triệt để các quy định pháp luật về giới và bình đẳng giới; đối với tổ chức đảng, vấn đề giới cũng như tỷ lệ nữ lãnh đạo cũng cần thiết phải được thực thi nghiêm chỉnh như định lượng trong Nghị quyết số 11/NQ-TW; xem xét các giải pháp xử lý đối với các tổ chức, cơ quan đến năm 2020 mà không đạt tỷ lệ: “cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp từ 35% đến 40%; các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ; cơ quan cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ phải có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia có những thành tựu lớn về giáo dục, phổ biến, tuyên truyền và thực thi pháp luật về giới, bình đẳng giới trên thực tế để học tập kinh nghiệm cũng như tạo ra phong trào tích cực về việc nhìn nhận, đánh giá vị trí, vai trò của người phụ nữ trong các cấp bộ ngành, địa phương và toàn thể nhân dân. Thông qua đó cũng tiếp tục khẳng định sẽ tuân thủ nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế liên quan đến phụ nữ mà Việt Nam là quốc gia thành viên./.

>> Xem thêm:  Tổ chức chính trị là gì ? Quy định Luật Hiến Pháp về hệ thống chính trị ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Những vấn đề liên quan đến bình đẳng giới?

Trả lời:

1. Phụ nữ và nam giới đều bình đẳng tham gia và quyết định mọi công việc trong gia đình và xã hội.

2. Nam giới và phụ nữ cùng chia sẻ công việc trong gia đình và nuôi dạy con cái.

3. Phụ nữ không cam chịu bất bình đẳng giới và phân biệt đối xử trong gia đình và xã hội.

4. Không khoan nhượng với hành vi ngược đãi phụ nữ và trẻ em gái.

5. Gia trưởng là nguyên nhân chính dẫn đến bạo hành trong gia đình.

6. Phụ nữ và trẻ em gái có quyền và cơ hội học tập, nâng cao hiểu biết như nam giới và trẻ em trai.

7. Cha mẹ khuyến khích và tạo điều kiện cho trẻ em gái đến trường và tiếp tục theo học lên cao.

8. Hôn nhân không tự nguyện và tảo hôn là một nguyên nhân dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gia đình.

9. Lựa chọn hành vi tình dục an toàn là quyền và trách nhiệm của nam giới và phụ nữ để phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục.

10. Nói KHÔNG với tình dục trước 18 tuổi.

Câu hỏi: Chế độ mẫu hệ là gì?

Trả lời:

Chế độ mẫu hệ là dấu vết của mối quan hệ họ hàng qua dòng nữ. Nó cũng có thể tương quan với một hệ thống xã hội trong đó mỗi người được xác định bằng mẫu hệ – mẹ của họ - dòng dõi của bên mẹ - và có thể liên quan đến việc thừa kế tài sản và/hoặc quyền sở hữu.

Câu hỏi: Khái niệm về giới tính?

Trả lời:

Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được.