1. Các loại hình tổ chức kinh doanh

Các loại hình tổ chức kinh doanh ở Hoa Kỳ rất đa dạng, nhưng tựu trung, hầu hết các tổ chức kinh doanh ở Hoa Kỳ tồn tại dưới ba loại hình cơ bản sau: (1) cá nhân kinh doanh (sole proprietorship), (2) hợp danh (partnership), (3) công ty cổ phần (corporation).

Pháp luật về các hoạt động kinh tế và các loại hình doanh nghiệp ở Hoa Kỳ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

2. Cá nhân kinh doanh (sole proprietorship)

Cá nhân kinh doanh là một mô hình kinh doanh mà trong đó một cá nhân vừa đồng thời là chủ sở hữu vừa đồng thời hoạt động kinh doanh. Theo mô hình này, chủ sở hữu là doanh nghiệp; vì vậy bất kỳ ai thực hiện kinh doanh mà không thành lập một tổ chức kinh doanh độc lập, được coi là cá nhân kinh doanh. Có hơn 2/3 số doanh nghiệp trên nước Hoa Kỳ là cá nhân kinh doanh. Họ thường là các doanh nghiệp nhỏ - khoảng 99% các cá nhân kinh doanh có doanh thu thấp hơn 1 triệu USD/năm
Cấu trúc tổ chức của mô hình cá nhân kinh doanh rất đa dạng, từ đơn giản đến phức tạp. Cá nhân kinh doanh có thể thuê người lao động, người quản lý. Nhưng người chịu trách nhiệm cuối cùng và người ra quyết định kinh doanh cuối cùng là người chủ. Cá nhân kinh doanh không được thừa nhận có tư cách pháp nhân độc lập, mọi hoạt động đều phụ thuộc vào người chủ sở hữu. Vì vậy, chủ sở hữu chịu trách nhiệm cá nhân đối với tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, các khoản lợi nhuận có được từ hoạt động kinh doanh, chủ sở hữu được hưởng toàn bộ mà không phải chia sẻ với ai. Trừ một số trường hợp nhất định phải có giấy phép, đăng ký hoặc hình thức khác tương tự, cá nhân kinh doanh không phải đăng ký khi tổ chức kinh doanh. Theo mô hình này, chủ sở hữu là người trực tiếp nộp thuế thu nhập.

3. Hợp danh

Pháp luật về hợp danh bao gồm án lệ và các luật do các bang ban hành. Để tạo sự thống nhất về luật hợp danh giữa các bang, Hội nghị quốc gia về luật thống nhất giữa các bang (National Conferrence of Commissioners on Uniform State Laws) đã xây dựng các luật thống nhất về hợp danh. Các Luật thống nhất được phần lớn các bang thông qua và áp dụng. Luật thống nhất về hợp danh (Uniform Partnership Act - UPA) điều chỉnh về các vấn đề tổ chức và hoạt động của hợp danh khi các bên không có thỏa thuận về vấn đề này. UPA được hầu hết các bang áp dụng trừ bang Louisiana.
Điều 101(6) UPA định nghĩa: “hợp danh là sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều người để cùng thực hiện hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận…”. Trong khái niệm này, người được hiểu bao gồm cả cá nhân, pháp nhân và các thực thể pháp lý khác. Như vậy, theo pháp luật của Hoa Kỳ, hợp danh có thể được thiết lập bởi các cá nhân, pháp nhân và/hoặc các thực thể pháp lý khác. Hợp danh thông thường (general partnership) khi thành lập không phải đăng ký. Điều 202(a) của UPA quy định: “Sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều chủ thể để cùng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận tạo thành một hợp danh mà không nhất thiết phải có ý định thành lập hợp danh của các bên”. Hợp danh có thể là bất kỳ sự hợp tác nào mà có: (1) Chia sẻ lợi nhuận và lỗ; (2) Đồng sở hữu tổ chức kinh doanh; (3) Có quyền bình đẳng trong việc quản lý hoạt động kinh doanh. Trong thực tiễn, nếu một giao dịch nào có sự chia sẻ lợi nhuận và rủi ro được mặc nhiên suy đoán là hợp danh104. Trong vụ Pope v. Triangle Chemical Co., 227 S.E.2d 758 (Ga. 1981), Tòa án nhận định: “Dù một người mà người này thể hiện rằng mình là một thành viên hợp danh của một hợp danh mà thực tế người này không phải là thành viên có bị ràng buộc trách nhiệm với người khác vì mối quan hệ này hay không, người này không thể bị ràng buộc trách nhiệm đối với các khoản nợ của hợp danh bởi vì mối quan hệ này khi các khoản nợ này không phát sinh từ các hợp đồng do người này xác lập, trừ trường hợp chủ nợ, khi cấp tín dụng, được thông báo về mối quan hệ này và tin tưởng rằng người thể hiện rằng mình là thành viên hợp danh là một thành viên hợp danh”.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ quan hệ hay giao dịch nào cũng được coi là hợp danh. Điều 202(c) của UPA đưa ra các quy tắc xác định hợp danh như sau:
(1) Bản thân quan hệ sở hữu hợp nhất (joint tenancy), sở hữu chung (tenancy in common), sở hữu toàn phần (tenancy by the entirety) không xác lập một hợp danh dù các đồng chủ sở hữu cũng chia sẻ lợi nhuận từ việc khai thác tài sản.
(2) Bản thân việc phân chia lợi tức thuần (gross returns) không xác lập một hợp danh, mặc dù các bên có quyền chung, có phần quyền hoặc có lợi ích trong tài sản phát sinh ra lợi tức.
(3) Một người nhận lợi nhuận từ một tổ chức kinh doanh được mặc nhiên suy đoán là thành viên hợp danh của tổ chức kinh doanh đó, trừ khi lợi nhuận phát sinh từ: (i) khoản nợ được thanh toán nhiều đợt hoặc phương thức khác; (ii) cung ứng dịch vụ với tư cách là nhà thầu độc lập hoặc lương hoặc các khoản tiền khác thanh toán cho người lao động; (iii) thuê; (iv) Lương hưu hoặc các khoản trợ cấp hưu trí khác trả cho người thụ hưởng, người đại diện hoặc người được tiếp nhận quyền của thành viên hợp danh bị chết hoặc nghỉ hưu; (v) Lãi hoặc các khoản phí khác đánh vào khoản vay mặc dù các khoản này được thay đổi theo lợi nhuận của tổ chức kinh doanh, bao gồm quyền sở hữu hiện hữu hoặc trong tương lai một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tài sản bảo đảm hoặc quyền đối với thu nhập, lợi tức hoặc chênh lệch giá trị phát sinh từ tài sản bảo đảm; (vi) Chuyển nhượng uy tín kinh doanh hoặc tài sản khác và thanh toán theo từng đợt hoặc theo phương thức khác.
Khi thành lập hợp danh các bên phải nêu rõ trong thỏa thuận hợp danh về thời hạn hoạt động của hợp danh hoặc mục đích hoạt động của hợp danh mà nếu như mục đích đó được hoàn thành, hợp danh sẽ chấm dứt. Nếu như trong thỏa thuận hợp danh không có quy định này, hợp danh được coi là hợp danh không xác định thời hạn (at-will partnership). Theo đó, bất kỳ thành viên hợp danh nào cũng có quyền chấm dứt tư cách thành viên hợp danh tại bất kỳ thời điểm nào mà không được coi là vi phạm thỏa thuận hợp danh và không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho các thành viên hợp danh còn lại.
Trong một số trường hợp nhất định, thành viên hợp danh  sẽ chấm dứt tư cách thành viên (dissociation of a partner), như trường hợp: thành viên hợp danh này tự nguyện chấm dứt tư cách thành viên bằng việc gửi thông báo thể hiện rõ ý định chấm dứt tư cách thành viên; xảy ra sự kiện làm chấm dứt tư cách thành viên được quy định trong thỏa thuận hợp danh; thành viên hợp danh này bị khai trừ theo quy định trong thỏa thuận hợp danh...
Việc một thành viên hợp danh chấm dứt tư cách thành viên không nhất thiết làm cho hợp danh chấm dứt hoạt động. Kể từ thời điểm chấm dứt tư cách thành viên, các quyền tham gia quản lý hợp danh của thành viên chấm dứt. Nghĩa vụ không cạnh tranh với hợp danh cũng không còn tồn tại từ thời điểm này. Tuy nhiên, các nghĩa vụ khác thuộc nhóm nghĩa vụ trung thành và nghĩa vụ cẩn trọng vẫn còn hiệu lực đối với các vấn đề xảy ra trước khi chấm dứt tư cách thành viên. Nếu việc chấm dứt tư cách thành viên không dẫn đến việc chấm dứt hoạt động của hợp danh, lợi ích của thành viên hợp danh bị chấm dứt tư cách thành viên phải được mua bởi các thành viên còn lại với giá tương ứng với số tiền mà thành viên này được nhận lại khi hợp danh được thanh lý tính theo giá trị của hợp danh tại thời điểm chấm dứt tư cách thành viên. Các bên có thể thỏa thuận trong bản thỏa thuận hợp danh về công thức tính giá thanh toán lợi ích của thành viên hợp danh chấm dứt tư cách thành viên. Khi tiến hành thanh toán, các bên đối trừ khoản tiền thanh toán này với các nghĩa vụ mà thành viên hợp danh này nợ hợp danh (bao gồm cả các khoản bồi thường thiệt hại thuộc trường hợp chấm dứt tư cách thành viên trái luật). Trong trường hợp các bên không thống nhất được các khoản thanh toán và đối trừ, Tòa án sẽ xác định.
Giải thể hợp danh có thể được khởi xướng bởi các thành viên hợp danh, theo quy định của pháp luật hoặc theo lệnh của Tòa án. Sau khi bắt đầu thủ tục giải thể, hợp danh vẫn tồn tại để tiến hành thủ tục thanh lý. Trong giai đoạn này, thành viên hợp danh không được quyền xác lập các nghĩa vụ mới cho hợp danh. Các thành viên hợp danh chỉ có quyền tiếp tục hoàn tất các giao dịch được xác lập tại hoặc trước thời điểm giải thể và tiến hành các công việc để thanh lý hợp danh. Trong giai đoạn này, thành viên hợp danh vẫn có nghĩa vụ thụ thác đối với hợp danh và các thành viên còn lại. Tại bước thanh lý hợp danh, tài sản của hợp danh được thu hồi lại và được phân bổ theo thứ tự ưu tiên sau:
(1) Hoàn thành các nghĩa vụ với các chủ nợ kể cả chủ nợ là thành viên hợp danh hoặc không phải là thành viên hợp danh;
(2) Hoàn trả lại vốn góp và phân bổ lợi nhuận cho các thành viên hợp danh.
Nếu nghĩa vụ của hợp danh lớn hơn tài sản, các thành viên hợp danh phải gánh chịu lỗ theo tỷ lệ phân bổ lợi nhuận nếu như thỏa thuận hợp danh không có quy định khác.
Hợp danh có những đặc điểm nêu trên được gọi là hợp danh hoặc hợp danh thông thường (general partnership). Ngoài hợp danh thông thường trong pháp luật của Hoa Kỳ còn ghi nhận sự tồn tại của hai loại hình hợp danh khác đó là hợp danh trách nhiệm hữu hạn và hợp danh hữu hạn (hợp danh đặc biệt).
Hợp danh hữu hạn (limited partnership) có nguồn gốc từ Châu Âu lục địa thời trung cổ và được phát triển ở Hoa Kỳ từ những năm đầu 1800107. Từ năm 1976 đến nay, hầu hết các bang áp dụng Luật hợp danh hữu hạn thống nhất (bản sửa đổi) (Revised Uniform Limited Partnership Act - RULPA).
Hợp danh hữu hạn có nhiều đặc điểm giống với hợp danh thông thường nhưng có một số đặc điểm khác biệt cơ bản sau:
(1) Hợp danh hữu hạn có ít nhất một thành viên hợp danh hữu hạn (limited partner) và ít nhất một thành viên hợp danh (general partner). Thành viên hợp danh có những đặc điểm, quyền và nghĩa vụ như đã phân tích ở trên. Thành viên hợp danh hữu hạn góp vốn bằng tiền hoặc tài sản khác vào hợp danh và có phần lợi ích trong hợp danh nhưng thành viên hợp danh hữu hạn không có quyền tham gia quản lý hợp danh và chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của hợp danh hữu hạn.
(2) Khi thành lập hợp danh, các thành viên bắt buộc phải ký vào bản chứng nhận thành lập hợp danh hữu hạn (certificate of limited partnership). Bản chứng nhận thành lập hợp danh hữu hạn gồm các thông tin quan trọng như tên, địa chỉ và mức vốn góp của từng thành viên bao gồm cả thành viên hợp danh hữu hạn và thành viên hợp danh. Văn bản này phải được đăng ký với thư ký bang. Bản chứng nhận được công bố rộng rãi cho công chúng. Nếu không đăng ký, hợp danh được coi là hợp danh thông thường.
(3) Nếu trong Bản chứng nhận thành lập hợp danh hữu hạn không có quy định về phân chia lợi nhuận và lỗ thì lợi nhuận và lỗ được phân chia theo tỷ lệ góp vốn.
Hợp danh trách nhiệm hữu hạn (limited liability partnership
- LLP). Mô hình LLP rất được ưa chuộng trong lĩnh vực dịch vụ chuyên nghiệp và kinh doanh gia đình. Bốn hãng kiểm toán lớn nhất thế giới tổ chức và hoạt động theo mô hình LLP108. LLP được tổ chức và hoạt động theo các luật của bang. LLP cũng có những đặc điểm giống với hợp danh thông thường nhưng có điểm khác biệt về trách nhiệm của thành viên hợp danh. Mặc dù luật của mỗi bang có quy định khác nhau, nhưng quy tắc chung là thành viên hợp danh trong LLP không phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với tất cả các nghĩa vụ của LLP mà chỉ chịu trách nhiệm cá nhân đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động của thành viên hợp danh này. Ngoài ra, LLP phải được đăng ký thành lập tại Văn phòng thư ký bang hoặc tương đương. Đồng thời, LLP phải nộp báo cáo hàng năm lên cơ quan có thẩm quyền để duy trì địa vị pháp lý của LLP.

4. Công ty trách nhiệm hữu hạn

Công ty trách nhiệm hữu hạn (limited liability company
- LLC) là một loại hình doanh nghiệp vừa có một số đặc điểm của công ty cổ phần (về khía cạnh trách nhiệm hữu hạn) vừa    có một số đặc điểm của công ty hợp danh (về khía cạnh đánh thuế thu nhập đối với thành viên). Giống như hợp danh, công   ty trách nhiệm hữu hạn không phải nộp thuế thu nhập mà thuế thu nhập sẽ đánh trực tiếp vào lợi nhuận chia cho các thành viên trừ trường hợp các thành viên lựa chọn đánh thuế thu nhập vào công ty109. Công ty trách nhiệm hữu hạn giống công ty cổ phần  ở hai điểm cơ bản đó là công ty trách nhiệm hữu hạn được thừa nhận tư cách pháp nhân. Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn được gọi là thành viên cũng được hưởng cơ chế trách nhiệm hữu hạn như cổ đông. Khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, điều lệ (articles of organization) phải được đăng ký tại Văn phòng Thư ký Bang. Bản điều lệ phải có các thông tin: tên doanh nghiệp, trụ sở chính, tên và địa chỉ của người đại diện theo pháp luật (registered agent), tên và địa chỉ của thành viên và quy chế quản lý công ty.
Cơ cấu tổ chức và hoạt động của LLC rất linh hoạt, các thành viên có thể xác lập thỏa thuận vận hành (operating agreement) để quy định về quản lý, phân chia lợi nhuận, chuyển nhượng vốn, giải thể LLC. Trong trường hợp không có thỏa thuận vận hành hoặc thỏa thuận vận hành không có quy định tương ứng, các quy định trong Luật của bang điều chỉnh về LLC được áp dụng. Nếu không có thỏa thuận vận hành hoặc Luật bang không quy định, Tòa án sẽ áp dụng các quy định về hợp danh để giải quyết. Về cơ bản, LLC có hai mô hình quản lý để lựa chọn: mô hình “thành viên quản lý” (member-managed) và mô hình “người quản lý quản lý” (manager-managed). Theo quy định của pháp luật của hầu hết các bang, nếu điều lệ không có quy định khác, thì mặc nhiên suy đoán LLC áp dụng mô hình “thành viên quản lý”. Theo mô hình này, tất cả các thành viên tham gia quản lý và quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số phiếu (majority vote). Trong mô hình “người quản lý quản lý”, các thành viên sẽ trao quyền quản lý cho một nhóm người để quản lý công ty. Ban quản lý công ty có thể chỉ bao gồm những thành viên được trao quyền quản lý hoặc cả thành viên hoặc người không phải là thành viên hoặc toàn bộ là những người không phải là thành viên. Người quản lý công ty có nghĩa vụ thụ thác đối với công ty. Nhiều bang quy định người quản lý công ty còn có nghĩa vụ thụ thác đối với cả công ty và thành viên.
Các trường hợp và thủ tục chấm dứt tư cách thành viên LLC tương tự như trường hợp chấm dứt tư cách thành viên của hợp danh. Việc thành viên chấm dứt tư cách thành viên không nhất thiết dẫn đến chấm dứt hoạt động của LLC. Thủ tục chấm dứt hoạt động LLC cũng bao gồm hai bước là giải thể và thanh lý công ty.

5. Công ty cổ phần

Công ty cổ phần (corporation) là một pháp nhân được thành lập và thừa nhận theo pháp luật của bang. Công ty cổ phần có thể được sở hữu bởi một hoặc nhiều người gọi là cổ đông. Cổ đông có thể là thể nhân hoặc pháp nhân hoặc bất kỳ thực thể pháp lý nào. Công ty cổ phần có những đặc điểm được mô tả dưới bảng sau:
Tư cách pháp nhân Có tên riêng, có quyền sở hữu tài sản, độc lập tham gia các giao dịch, có quyền khởi kiện, có thể bị kiện và một số quyền khác như cá nhân.
Trách nhiệm hữu hạn Công ty cổ phần tự chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của nó. Cổ đông không phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty. Trách nhiệm hay chính xác hơn, rủi ro của cổ đông giới hạn trong phạm vi số tiền họ đầu tư vào công ty.
Tự do chuyển nhượng cổ phần Lợi ích của cổ đông được biểu hiện dưới dạng cổ phần và cổ phần được tự do chuyển nhượng.
Quản lý tập trung Quản lý công ty được tập trung vào Hội đồng quản trị và người điều hành công ty dưới sự chỉ đạo và giám sát của Hội đồng quản trị. Cổ đông không tham gia trực tiếp quản lý công ty. Cổ đông không có tư cách là đại diện của công ty. Quyền sở hữu và quyền quản lý công ty được tách bạch.
Tồn tại độc lập với cổ đông Công ty cổ phần tồn tại không phụ thuộc vào sự thay đổi của cổ đông do chết, mất năng lực hay chuyển nhượng cổ phần.
Thuế thu nhập Nhìn chung, thuế thu nhập sẽ đánh vào thu nhập của công ty cổ phần sau đó lại đánh tiếp vào cổ tức chia cho các cổ đông (đánh thuế hai lần) (double taxation) trừ trường hợp S-corporation.
Ở Hoa Kỳ, mỗi bang có Luật riêng điều chỉnh về công ty cổ phần, trong đó chia làm hai nhánh chính. Nhánh thứ nhất gồm các bang áp dụng theo Luật mẫu về công ty cổ phần kinh doanh (Arizona, Georgia, North Carolina, South Carolina, Washington…) và nhánh thứ hai là các bang còn lại tự ban hành Luật công ty riêng, trong đó Luật chung về công ty cổ phần của Delaware có ảnh hưởng lớn nhất.
Nếu phân loại theo tiêu chí nơi thành lập và nơi hoạt động, công ty cổ phần được phân chia thành công ty cổ phần nội bang (domestic corporation)110, công ty cổ phần ngoại bang (foreign corporation)111 và công ty cổ phần nước ngoài (alien corporation)112. Để có thể hoạt động kinh doanh tại bang khác với bang công ty cổ phần được thành lập, công ty này phải được cấp giấy chứng nhận hoạt động (certificate of authority) từ bang mà công ty đó dự định hoạt động.
Nếu phân loại theo mục đích thành lập, công ty cổ phần được chia thành công ty cổ phần công cộng (public corporation) và công ty cổ phần tư nhân (private corporation). Công ty cổ phần công cộng là công ty do Nhà nước thành lập để thực hiện các mục đích công cộng. Ngược lại, công ty cổ phần tư nhân (private corporation) là công ty được thành lập bởi tư nhân để thực hiện các mục đích lợi nhuận của tư nhân.
Nếu phân chia theo mục đích lợi nhuận, công ty cổ phần bao gồm công ty cổ phần vì mục đích lợi nhuận và công ty cổ phần  phi lợi nhuận (non-profit corporations). Các bệnh viện tư nhân,  các cơ sở giáo dục tư nhân, các quỹ từ thiện… thường được tổ chức dưới mô hình công ty cổ phần phi lợi nhuận.
Nếu phân loại theo tiêu chí cổ phần được mua bán ngoài công chúng, công ty cổ phần được chia thành công ty cổ phần phi đại chúng (closely held corporation) và công ty cổ phần đại chúng (publicly held corporation). Công ty cổ phần phi đại chúng là công ty cổ phần mà cổ phần không được mua bán ngoài công chúng, cổ phần chủ yếu được nắm giữ bởi các thành viên gia đình hoặc một nhóm nhỏ các cổ đông. Ngược lại, công ty cổ phần đại chúng là công ty mà có cổ phần được giao dịch ngoài công chúng, cổ phần của công ty này được nắm giữ bởi công chúng đầu tư. Các quy định về quản lý nội bộ công ty phi đại chúng linh hoạt hơn so với các quy định về quản lý nội bộ công ty đại chúng. Việc chuyển nhượng cổ phần ở công ty phi đại chúng thường ảnh hưởng đến việc quản lý công ty. Vì vậy, các cổ đông thường có các quy định nhằm hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Ngược lại, trong công ty cổ phần đại chúng, việc chuyển nhượng cổ phần là tự do, trừ một số trường hợp đặc biệt.
Ngoài các trường hợp đã nêu trên, trong trường hợp công ty được sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo, lẩn tránh nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật hoặc theo hợp đồng… Tòa án có thể xem xét áp dụng học thuyết “xuyên thủng màng pháp nhân”.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê