Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Pháp luật Hoa Kỳ phân định rạch ròi giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Theo đó, cổ đông là người sở hữu công ty nhưng không có quyền trực tiếp quản lý công ty. Hoạt động quản lý công ty được trao cho Hội đồng quản trị và người điều hành công ty. Cổ đông chỉ thực hiện quyền kiểm soát công ty thông qua biểu quyết để bầu hoặc miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và thông qua hoặc không thông qua những thay đổi căn bản của công ty.
Hoa Kỳ áp dụng mô hình một hội đồng (one-tier board). Theo mô hình này bộ máy quản lý cao nhất của công ty chỉ có Hội đồng quản trị (board of directors) có hai chức năng là quản lý (management) và giám sát (monitor). Hội đồng quản trị không quản lý công việc hàng ngày mà bổ nhiệm hoặc thuê người điều hành (officers) để thực hiện chức năng quản lý công việc hàng ngày của công ty. Như vậy, trong cấu trúc quản trị của công ty cổ phần ở Hoa Kỳ có Đại hội đồng cổ đông - Hội đồng quản trị - Người điều hành công ty.
Pháp luật điều chỉnh các quan hệ quản trị doanh nghiệp bao gồm các luật về công ty cổ phần của các bang, các án lệ cấp Liên bang và bang, các luật về chứng khoán, Luật Sarbanes-Oxley 2002130, các luật khác và các quy chế do Ủy ban Chứng khoán (SEC) ban hành. Các công ty niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán còn phải tuân thủ các chuẩn mực quản trị doanh nghiệp do các sở giao dịch chứng khoán ban hành. Ví dụ, các công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán New York (New York Stock Exchange - NYSE) phải tuân thủ các chuẩn mực quản trị doanh nghiệp rất chặt chẽ của NYSE. Trong việc áp dụng chuẩn mực quản trị doanh nghiệp của tổ chức tự quản như NYSE, các công ty đại chúng buộc phải tuân thủ chuẩn mực quản trị nếu không sẽ không được niêm yết trừ những ngoại lệ do NYSE quy định.
2. Cổ đông
Quyền quan trọng nhất của cổ đông phổ thông là quyền biểu quyết131. Cổ đông có quyền biểu quyết để bầu hoặc miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và thông qua những thay đổi căn bản của công ty như sửa đổi điều lệ của công ty, sáp nhập hoặc giải thể công ty hoặc bán phần lớn tài sản của công ty. Tuy nhiên, quyền biểu quyết của cổ đông không thực hiện một cách riêng lẻ mà được thực hiện bởi tập thể các cổ đông tại các cuộc họp, gọi là Đại hội đồng cổ đông132. Đại hội đồng cổ đông phải được tổ chức thường niên và trong trường hợp cần thiết có thể được tổ chức bất thường. Hội đồng quản trị có quyền triệu tập Đại hội đồng cổ đông. Ngoài ra, một người điều hành cụ thể hoặc một nhóm cổ đông có quyền triệu Đại hội đồng cổ đông bất thường. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông chỉ hợp lệ khi có số cổ đông đại diện trên 50% tổng số cổ phần biểu quyết dự họp. Cổ đông có thể trực tiếp biểu
130Sarbanes-Oxley Act of 2002 có số hiệu là Pub.L.107-204 ban hành ngày 30/7/2012, được ban hành nhằm tăng cường bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và lấy lại niềm tin của nhà đầu tư sau một loạt các vụ bê bối của Enron, Tyco International, Health South, WorldCom, Adelphia và nhiều công ty lớn khác. Các vụ bê bối này gây thiệt hại cho nhà đầu tư hàng tỷ USD khi giá cổ phiếu của các quyết hoặc ủy quyền cho người khác thay mặt mình biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông. Ngoài ra, còn có cơ chế thỏa thuận biểu quyết cổ đông (shareholder voting agreement) theo cơ chế này các cổ đông cùng thỏa thuận trước khi tiến hành đại hội đồng cổ đông về việc biểu quyết theo cách thức nhất định. Cổ đông có thể ủy quyền cho một tổ chức tín thác đại diện mình biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông theo hợp đồng ủy thác quyền biểu quyết (voting trust). Khi biểu quyết thông qua một vấn đề nào đó tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, pháp luật hầu hết các bang của Hoa Kỳ áp dụng nguyên tắc đa số phiếu thường (simple majority), trừ một số trường hợp đặc biệt. Đối với việc bầu thành viên Hội đồng quản trị thì áp dụng nguyên tắc bầu dồn phiếu.
Ngoài quyền biểu quyết, cổ đông còn có quyền tiếp cận thông tin của công ty và đặc biệt pháp luật trao cho cổ đông quyền khởi kiện phái sinh. Khi lợi ích của công ty bị xâm hại hoặc đe dọa bởi người thứ ba, Hội đồng quản trị sẽ đại diện công ty khởi kiện người thứ ba. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, Hội đồng quản trị không thực hiện nhiệm vụ này, cổ đông có quyền nhân danh công ty khởi kiện người thứ ba mặc dù về mặt nguyên tắc cổ đông không có tư cách đại diện cho công ty. Vì vậy, quyền này của cổ đông được gọi là quyền khởi kiện phái sinh. Quyền khởi kiện phái sinh có thể được thực hiện bởi một cổ đông và không phụ thuộc vào số lượng cổ phần mà cổ đông này nắm giữ. Trước khi thực hiện quyền này, cổ đông phải gửi bản yêu cầu bằng văn bản lên Hội đồng quản trị để yêu cầu Hội đồng quản trị tiến hành khởi kiện người thứ ba. Nếu quá 90 ngày kể từ ngày gửi bản yêu cầu mà Hội đồng quản trị không khởi kiện, cổ đông sẽ thực hiện quyền khởi kiện phái sinh. Quyền khởi kiện phái sinh có ý nghĩa bảo vệ lợi ích của công ty và của cổ đông trong những trường hợp đặc biệt, nhất là khi người có hành vi xâm phạm lợi ích của công ty là thành viên Hội đồng quản trị và/hoặc người điều hành công ty. Ngoài ra, cổ đông lớn phải có nghĩa vụ thụ thác đối với cổ đông nhỏ. Đây là một quy định rất hiệu quả trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông nhỏ. Nghĩa vụ này đòi hỏi cổ đông lớn phải vì lợi ích của công ty và cổ đông nhỏ. Trong vụ Brodie v. Jordan, 447 Mass. 866, 857 N.E.2d 1076 (2006): “Brodie, Jordan và Barbuto thành lập một công ty cổ phần phi đại chúng để kinh doanh một cửa hàng. Mỗi người sở hữu 1/3 cổ phần của công ty và tất cả đều là thành viên hội đồng quản trị. Brodie làm Chủ tịch công ty trong vòng 12 năm nhưng sau đó một năm đôi lần mới gặp các cổ đông khác. Sau khi xảy ra bất đồng, Brodie yêu cầu công ty mua lại cổ phần nhưng bị từ chối. Vài năm sau, Brodie chết vợ của anh thừa kế số cổ phần của anh trong công ty. Nhưng Jordan và Barbuto từ chối thực hiện việc định giá công ty, không cho cô tiếp cận thông tin cô yêu cầu, không chia cổ tức và từ chối bầu cô làm thành viên hội đồng quản trị. Trong vụ này, Tòa án kết luận rằng các cổ đông lớn đã vi phạm nghĩa vụ vì lợi ích của vợ của Brodie”133.
3. Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị bao gồm các thành viên Hội đồng quản trị. Pháp luật của các bang không hạn chế số lượng thành viên của Hội đồng quản trị. Đồng thời, pháp luật của các bang cũng không quy định về điều kiện là thành viên Hội đồng quản trị. Vì vậy, thành viên Hội đồng quản trị không nhất thiết phải là cổ đông. Thành viên Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu và miễn nhiệm. Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc thù, pháp luật một số bang cho phép Hội đồng quản trị miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị134. Một số bang còn quy định Tòa án cũng có quyền miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị khi: (1) thành viên Hội đồng quản trị thực hiện các hành vi lừa dối hoặc phạm tội cố ý liên quan đến công ty; (2) vì lợi ích tốt nhất cho công ty. (Điều 10-809 của các luật được điều chỉnh của Arizona (Arizona revised statutes)). Trong trường hợp thành viên Hội đồng quản trị bị khuyết, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông có quyền bổ sung thành viên mới.
Thành viên Hội đồng quản trị không hoạt động riêng lẻ, không đương nhiên là người đại diện của công ty. Theo nguyên tắc, Hội đồng quản trị hoạt động tập thể và Hội đồng quản trị là đại diện của công ty. Thành viên Hội đồng quản trị thực hiện các nhiệm vụ được giao, tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng quản trị. Mỗi thành viên Hội đồng quản trị có một phiếu biểu quyết có giá trị ngang nhau. Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thành viên Hội đồng quản trị có quyền tiếp cận thông tin.
Hội đồng quản trị phải họp định kỳ theo quy định của quy chế của công ty. Hội đồng quản trị cũng có thể họp bất thường. Cuộc họp Hội đồng quản trị được coi là hợp lệ nếu quá nửa số thành viên Hội đồng quản trị dự họp và quyết định của Hội đồng quản trị được thông qua nếu quá nửa số thành viên Hội đồng quản trị biểu quyết thông qua.
Thành viên Hội đồng quản trị được chia thành thành viên Hội đồng quản trị kiêm nhiệm (inside directors) và thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài (outside directors). Thành viên Hội đồng quản trị kiêm nhiệm là người vừa là thành viên Hội đồng quản trị đồng thời là người điều hành công ty. Thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài là thành viên Hội đồng quản trị không kiêm nhiệm vị trí điều hành công ty. Đối với các công ty cổ phần phi đại chúng, pháp luật các bang không hạn chế về cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị kiêm nhiệm và thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài. Tuy nhiên, đối với các công ty đại chúng và một số tổ chức đặc biệt, trong cơ cấu Hội đồng quản trị phải có thành viên Hội đồng quản trị độc lập (independent directors). Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị độc lập khắt khe hơn so với tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài. Ngoài yếu tố không kiêm nhiệm vị trí điều hành, thành viên Hội đồng quản trị độc lập còn phải đáp ứng các tiêu chí để bảo đảm tính độc lập của thành viên này khi làm nhiệm vụ. Ví dụ, theo Quy chế niêm yết của Sở giao dịch chứng khoán New York135, một thành viên Hội đồng quản trị chỉ được coi là thành viên Hội đồng quản trị độc lập nếu không thuộc một trong các trường hợp sau: (1) đang là người quản lý hoặc người lao động của công ty; (2) trong phạm vi ba năm trước đó đã làm việc cho công ty trừ hợp đồng lao động trước đó để đảm nhiệm vị trí người quản lý lâm thời (hợp đồng lao động tạm thời không quá 01 năm); (3) Thành viên Hội đồng quản trị nhận hoặc có người thân nhận mức thù lao trên 120.000 USD từ công ty trong thời hạn 12 tháng liên tục trước khi xem xét tính độc lập của thành viên này trừ: (a) thù lao trả cho hoạt động của Hội đồng quản trị hoặc ban chuyên môn của Hội đồng quản trị;
(b) thù lao trả cho người thân của thành viên Hội đồng quản trị là người lao động của công ty (không phải là người quản lý); (c) thù lao trả cho vị trí người quản lý lâm thời trước đó (với điều kiện hợp đồng lao động tạm thời không quá một năm); được hưởng trợ cấp từ chương trình hưu trí hưởng ưu đãi thuế hoặc thù lao độc lập
(1) Là người thân của cá nhân là người quản lý của công ty trong phạm vi ba năm trước đó; (5) Thành viên Hội đồng quản trị hoặc người thân là thành viên hợp danh, cổ đông kiểm soát hoặc người quản lý của bất kỳ tổ chức nào mà công ty trả hoặc nhận thanh toán (trừ các khoản phát sinh chỉ từ đầu tư vào chứng khoán của công ty hoặc các khoản thanh toán theo chương trình đóng góp từ thiện độc lập) mà khoản thanh toán đó trên 5% doanh thu thuần hàng năm của tổ chức hoặc trên 200.000 USD phụ thuộc vào con số nào lớn hơn trong ba năm tài chính gần nhất; (6) Thành viên Hội đồng quản trị hoặc người thân là người quản lý của bất kỳ tổ chức nào mà tại bất kỳ thời điểm nào trong ba năm tài chính liên tiếp bất kỳ người quản lý nào của công ty là thành viên ban chính sách thù lao của tổ chức đó; (7) Thành viên Hội đồng quản trị hoặc người thân là thành viên hợp danh của công ty kiểm toán bên ngoài của công ty hoặc là đã từng là thành viên hợp danh hoặc nhân viên của công ty kiểm toán bên ngoài của công ty đã từng cung cấp dịch vụ kiểm toán cho công ty tại bất kỳ thời điểm nào trong ba năm trước đó. Cũng theo Quy chế này, số thành viên Hội đồng quản trị độc lập phải chiếm trên 50% tổng số thành viên Hội đồng quản trị trong công ty đại chúng.
Người nắm vai trò tổ chức và điều phối các cuộc họp Hội đồng quản trị là Chủ tịch Hội đồng quản trị. Pháp luật Hoa Kỳ không cấm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc công ty (Chief Executive Officer - CEO). Tuy nhiên, Điều 14B Luật chứng khoán năm 1933 yêu cầu công ty đại chúng phải giải trình với nhà đầu tư về việc Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm hay không kiêm nhiệm Tổng giám đốc.
Đối với các công ty cổ phần phi đại chúng Hội đồng quản trị có toàn quyền quyết định thành lập các ban chuyên môn gồm một số hoặc một số thành viên Hội đồng quản trị để thực hiện các công việc chuyên môn do Hội đồng quản trị giao. Thực tiễn cho thấy, các công ty cổ phần ở Hoa Kỳ thường có các ban chuyên môn sau: Ban kiểm toán, Ban đề cử và Ban thù lao. Ban kiểm toán có nhiệm vụ giám sát các công việc kiểm toán đối với công ty. Điều 301 Luật Sarbanes-Oxley bắt buộc các công ty đại chúng phải có Ban kiểm toán nếu không chứng khoán của công ty này sẽ không được niêm yết tại các sở giao dịch chứng khoán hoặc các tổ chức thị trường chứng khoán. Ban đề cử có nhiệm vụ đề cử ứng cử viên để bầu thành viên Hội đồng quản trị. Ban thù lao có nhiệm vụ xem xét và quyết định chính sách lương, thưởng, quyền chọn mua cổ phần và các lợi ích khác dành cho những người quản lý cấp cao của công ty.
4. Người điều hành công ty
Người điều hành công ty bao gồm Tổng giám đốc (CEO), Chủ tịch công ty (President), Phó Chủ tịch công ty (Vice President), Giám đốc tài chính (Chief Finance Officer)… là những người trực tiếp điều hành các hoạt động hàng ngày của công ty theo lĩnh vực chuyên môn được phân công. Tổng giám đốc, Chủ tịch công ty là người điều hành công việc chung của công ty và là người điều hành cao nhất của công ty. Các chức danh điều hành khác thực hiện nhiệm vụ điều hành theo nhiệm vụ chuyên môn được giao. Người điều hành công ty chủ yếu hoạt động theo tính chất cá nhân và là người đại diện của công ty trong phạm vi thẩm quyền được giao. Hội đồng quản trị bổ nhiệm hoặc thuê người điều hành cao cấp. Hoạt động của người điều hành chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, trên thực tiễn người điều hành công ty mới là người thực tế quản lý công ty. Bởi vì tài sản, thông tin và các nguồn tài nguyên khác của công ty nằm dưới sự quản lý của người điều hành công ty. Để thực hiện được chức năng giám sát, Hội đồng quản trị cần thông tin, nhưng nguồn thông tin chủ yếu được cung cấp bởi người điều hành.
5. Nghĩa vụ của người quản lý công ty
Các Tòa án Hoa Kỳ đều tiếp cận mối quan hệ giữa người quản lý công ty (bao gồm thành viên Hội đồng quản trị và người điều hành công ty) với công ty và cổ đông công ty (toàn bộ) là quan hệ thụ thác. Trong đó công ty và cổ đông công ty là người ủy thác còn người quản lý công ty là người thụ thác. Vì vậy, người quản lý công ty có nghĩa vụ thụ thác đối với công ty và cổ đông công ty, với hai nghĩa vụ căn bản là nghĩa vụ trung thành và nghĩa vụ cẩn trọng.
“Nghĩa vụ cẩn trọng theo pháp luật của bang Delaware đòi hỏi thành viên Hội đồng quản trị phải cẩn trọng ở mức độ mà một người cẩn thận trung bình sẽ thực hiện trong tình huống tương tự và phải xem xét mọi thông tin hợp lý sẵn có khi ra quyết định. Định nghĩa này ngụ ý rằng việc xem xét nghĩa vụ cẩn trọng là xét đến tiêu chuẩn ngăn ngừa vi phạm do lỗi vô ý (cụ thể là tiêu chuẩn của “thành viên Hội đồng quản trị mẫn cán)”137. Như vậy nghĩa vụ cẩn trọng đòi hỏi người quản lý công ty phải thực hiện công việc một cách thiện chí, trung thực với sự cẩn trọng hợp lý mà một người cẩn trọng trung bình sẽ thực hiện trong cùng hoàn cảnh vì lợi ích tốt nhất của công ty. Người quản lý công ty vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng mà gây thiệt hại cho công ty thì phải chịu trách nhiệm bồi thường cho công ty.
Người quản lý công ty phải có được thông tin về các vấn đề của công ty và phải điều tra, thảo luận, nghiên cứu, đánh giá thông tin một cách hợp lý trước khi ra quyết định. Người quản lý công ty không được ra quyết định khi không có đầy đủ thông tin. Pháp luật thừa nhận, người quản lý công ty được dựa vào thông tin được cung cấp bởi những người có thẩm quyền (như giám đốc tài chính, nhân viên kế toán được giao quyền…), các chuyên gia, luật sư, ban chuyên môn của Hội đồng quản trị. Sự tin tưởng phải hợp lý và ngay tình. Nếu người quản lý công ty ra quyết định vì tin tưởng hợp lý và ngay tình vào các nguồn thông tin kể trên mà gây thiệt hại cho công ty thì được miễn trừ trách nhiệm dù sau đó thông tin được cung cấp được chứng minh là không chính xác. Như vậy, nếu người quản lý công ty mà ra quyết định mà không dựa vào thông tin đầy đủ được coi là vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng và phải bồi thường cho công ty nếu quyết định này gây thiệt hại cho công ty. Khi Hội đồng quản trị ra quyết định thuộc trường hợp vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng, thành viên Hội đồng quản trị nào thông qua quyết định này phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Thành viên Hội đồng quản trị phản đối và ý kiến phản đối được ghi trong biên bản họp Hội đồng quản trị được miễn trừ trách nhiệm.
Vì Hội đồng quản trị có chức năng giám sát nên thành viên Hội đồng quản trị có nghĩa vụ giám sát hoạt động của người điều hành công ty và người lao động một cách cẩn trọng.
Như vậy, nghĩa vụ cẩn trọng đòi hỏi thành viên Hội đồng quản trị phải làm việc một cách mẫn cán, cẩn thận vì lợi ích tốt nhất của công ty. Tuy nhiên, thành viên Hội đồng quản trị không phải là một nhà bảo hiểm rủi ro. Có nghĩa rằng trong nhiều trường hợp, thành viên Hội đồng quản trị ra một quyết định, mặc dù đã rất cẩn trọng, suy xét kỹ càng nhưng quyết định đó vẫn gây thiệt hại cho công ty. Để bảo đảm thành viên Hội đồng quản trị dám mạo hiểm với các quyết định kinh doanh của mình, án lệ các bang phát triển học thuyết “quy tắc quyết định kinh doanh” (business judgment rule). Trong vụ Caremark International Inc. Derivative Litigation, 689, A.2d 959 (Del. 1996), Tòa án nhận định: “Việc tuân thủ nghĩa vụ cẩn trọng của thành viên Hội đồng quản trị không thể xem xét một cách chính xác chỉ qua nội dung của quyết định của Hội đồng quản trị gây ra thiệt hại cho công ty mà không xem xét đến sự trung thực hoặc sự hợp lý của quy trình thông qua quyết định. Nghĩa là, việc thẩm phán hoặc bồi thẩm xem xét những vấn đề đằng sau những chứng cứ, tin rằng quyết định thực sự sai lầm, hoặc mức độ sai lầm từ “ngớ ngẩn” đến “quá tệ” hoặc “phi lý”, không cung cấp đủ cơ sở để buộc trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị, như vậy Tòa án xác định rằng quy trình thực hiện hoặc là hợp lý hoặc là được thực hiện với một nỗ lực ngay tình để tăng lợi ích của công ty”138. Quy tắc quyết định kinh doanh được áp dụng để miễn trừ trách nhiệm cho thành viên Hội đồng quản trị/người điều hành công ty nếu: (i) Thành viên Hội đồng quản trị/người điều hành công ty thực hiện các bước hợp lý để thu thập đầy đủ thông tin về vấn đề cần giải quyết; (ii) Thành viên Hội đồng quản trị/người điều hành công ty có đủ cơ sở hợp lý để ra quyết định; và (iii) Không có xung đột lợi ích giữa người quản lý công ty với công ty.
Nghĩa vụ trung thành: Trong mối quan hệ giữa công ty với người quản lý công ty luôn tiềm tàng xung đột lợi ích. Nghĩa vụ trung thành đòi hỏi người quản lý công ty phải ưu tiên lợi ích của công ty trước lợi ích cá nhân của người quản lý công ty. Cụ thể, nghĩa vụ trung thành được thể hiện trong các giao dịch tư lợi, không cạnh tranh với công ty, không sử dụng cơ hội, tài sản, bí mật kinh doanh của công ty vì mục đích riêng và vấn đề thù lao của người quản lý công ty.
Về giao dịch tư lợi, pháp luật Hoa Kỳ theo xu hướng áp dụng nguyên tắc công bằng. Theo đó, giao dịch tư lợi giữa người quản lý công ty với công ty không bị cấm nhưng phải bảo đảm sự công bằng với công ty. Trong vụ Abeles v. Adams Eng’g Co., 173 A.2d 246, 255 (N.J. 1961), Tòa án kết luận: “Hợp đồng giữa công ty với thành viên hội đồng quản trị mà không được Đại hội đồng cổ đông phê chuẩn không có hiệu lực trừ khi hợp đồng này thể hiện sự trung thực, công bằng và hợp lý”139. Theo pháp luật của các bang, người quản lý công ty có lợi ích riêng có nghĩa vụ công bố đầy đủ thông tin về giao dịch tư lợi cho Hội đồng quản trị bao gồm các thành viên không có lợi ích riêng liên quan đến giao dịch này. Vi phạm nghĩa vụ công bố được coi là giao dịch tư lợi không công bằng với công ty. Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản
trị có thẩm quyền phê chuẩn giao dịch tư lợi. Người có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết. Mặc dù giao dịch tư lợi được phê chuẩn nhưng nếu nó không công bằng đối với công ty thì vẫn có thể bị tuyên bố vô hiệu theo quyết định của công ty trừ khi giao dịch tư lợi được tất cả các cổ đông thông qua.
Pháp luật của các bang cũng không cho phép người quản lý công ty sử dụng cơ hội, tài sản của công ty cho mục đích cá nhân. Trong vụ Guth v. Loft, Inc. 5 A.2d 503 (Del. 1939), Tòa án bang Delaware - Hoa Kỳ nhận định “Rõ ràng là khi một cơ hội kinh doanh đến với người quản lý công ty với tư cách cá nhân hơn là tư cách của người quản lý và cơ hội không thuộc về công ty xuất phát từ bản chất của công ty, công ty không có lợi ích hoặc kỳ vọng ở cơ hội này, vì vậy người quản lý công ty có quyền sử dụng cơ hội này, miễn rằng người quản lý công ty chưa sử dụng nguồn lực của công ty một cách không chính đáng vào cơ hội này”. Tòa án tiếp tục nhận định: “Mặt khác, cũng cần khẳng định một cách công bằng rằng, nếu có một cơ hội kinh doanh được đưa ra cho người quản lý công ty mà công ty có khả năng tài chính để tiếp nhận, về mặt bản chất cơ hội này nằm trong phạm vi kinh doanh của công ty và về mặt thực tế cơ hội này công ty có thể tận dụng được, thì trường hợp này được coi là công ty có lợi ích hoặc kỳ vọng hợp lý, và bằng việc nắm bắt cơ hội này, người quản lý công ty được coi là xung đột lợi ích với công ty, vì vậy, luật không cho phép người quản lý công ty nắm bắt cơ hội cho riêng mình”.
6. Vấn đề kiểm soát thông tin tài chính
Đối với công ty đại chúng, cơ chế kiểm soát thông tin tài chính phải tuân theo Luật Sarbanes-Oxley năm 2002. Theo quy định của Luật Sarbanes-Oxley, báo cáo tài chính phải được xác nhận bởi Tổng giám đốc (tương đương) và giám đốc tài chính. Tổng giám đốc và Giám đốc tài chính phải xác nhận rằng báo cáo tài chính tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, các thông tin trong báo cáo tài chính là chính xác và trung thực. Ngoài ra, Tổng giám đốc và Giám đốc tài chính phải bảo đảm rằng công ty đã thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ. Quy định này nhằm ràng buộc trách nhiệm của Tổng giám đốc và Giám đốc tài chính về độ tin cậy của báo cáo tài chính. Điều 906(c)(1) Luật Sarbanes- Oxley năm 2002 quy định về việc phạt 2 triệu USD hoặc phạt tù đến 10 năm hoặc áp dụng cả hai đối với Tổng giám đốc và Giám đốc tài chính xác nhận vào báo cáo tài chính mà biết rằng báo cáo tài chính không tuân thủ theo quy định của Luật giao dịch chứng khoán năm 1934 nhằm bảo vệ nhà đầu tư và bảo đảm giao dịch chứng khoán ngay thẳng. Ngoài ra, nếu báo cáo tài chính bị buộc phải sửa lại vì vi phạm nghiêm trọng quy định về báo cáo tài chính, công ty đại chúng có quyền thu hồi lại phần chênh lệch giữa khoản thù lao có tính chất khuyến khích (bao gồm cả quyền chọn mua cổ phiếu) được trả cho người quản lý kể cả đương nhiệm hoặc đã mãn nhiệm, trên cơ sở số liệu sai trong thời hạn 03 năm trước thời điểm báo cáo tài chính bị buộc phải sửa, với mức mà người quản lý đáng lẽ chỉ được hưởng theo báo cáo tài chính140.
Theo quy định của Luật này, cứ mỗi năm tài chính, công ty phải đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính. Luật cũng buộc báo cáo đánh giá kiểm soát nội bộ được lập bởi bộ máy điều hành của công ty phải được xác nhận bởi kiểm toán, đồng thời kiểm toán cũng phải có báo cáo đối với đánh giá về kiểm soát nội bộ của bộ máy điều hành của công ty. Xác nhận phải phù hợp với tiêu chuẩn do hội đồng quản trị ban hành. Như vậy kiểm toán là khâu không thể thiếu trong quy trình kiểm soát nội bộ. Mục đích của cơ chế kiểm soát nội bộ là nhằm bảo đảm báo cáo tài chính được chính xác và đúng hạn. Tuy nhiên, các “công ty đại chúng với giá trị vốn hóa trên thị trường, hoặc cổ phiếu thả nổi trên thị trường thấp hơn 75 triệu USD không cần thiết phải có báo cáo kiểm toán đối với đánh giá về kiểm soát nội bộ của bộ máy điều hành của công ty”141.
Theo quy chế niêm yết của NYSE thì công ty đại chúng niêm yết tại NYSE phải có ban kiểm toán gồm ít nhất ba thành viên là các thành viên Hội đồng quản trị độc lập. Điều 10A(3)(b) của Luật giao dịch chứng khoán năm 1934: “(i) Không nhận bất kỳ phí tư vấn hoặc phí có tính chất thù lao nào từ công ty; hoặc (ii) không phải là người liên quan của công ty hoặc công ty con của nó”. Thành viên Ban kiểm toán phải chưa từng tham gia chuẩn bị báo cáo tài chính của công ty hoặc công ty con tại bất kỳ thời điểm nào trong ba năm trước đó. Điều 407 Luật Sarbanes-Oxley quy định trong cơ cấu của ban kiểm toán cần có một thành viên là một chuyên gia tài chính. Tuy nhiên, công ty không bắt buộc phải tuân thủ theo quy định này nhưng phải giải trình theo quy định của SEC nếu không tuân thủ. Ngoài ra, NYSE yêu cầu tất cả các thành viên của Ban kiểm toán phải có khả năng đọc và hiểu được những báo cáo tài chính cơ bản bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Đối với công ty nhỏ thì chỉ phải lập ban kiểm toán với ít nhất hai thành viên trong đó chỉ cần một thành viên là thành viên Hội đồng quản trị độc lập. Theo quy định của NYSE thì Ban kiểm toán phải họp ít nhất mỗi quý một lần trừ trường hợp ngoại lệ do NYSE quy định.
Ban kiểm toán chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ định, trả thù lao và kiểm soát hoạt động cung cấp dịch vụ của công ty kiểm toán. Ban kiểm toán được công ty cấp ngân sách để chi trả cho việc thuê kiểm toán và tư vấn. Ban kiểm toán có trách nhiệm nhận, lưu trữ và giải quyết các khiếu nại liên quan đến các vấn đề kế toán, kiểm soát nội bộ hoặc kiểm toán gửi đến công ty. Ban kiểm toán cũng phải giải quyết các thư nặc danh liên quan đến vấn đề kế toán hoặc kiểm toán được gửi đến bởi người lao động.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê
.png)