Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật đất đai năm 2013

2. Rủi ro pháp lý khi giao kết các giao dịch dân sự bằng giấy viết tay

Trong đời sống hàng ngày, Bạn thường tham gia xác lập các giao dịch dân sự, và rất nhiều trong số đó không được tiến hành công chứng, chứng thực. Phổ biến nhất, trong những giao dịch này, phải kể đến như: Hợp đồng đặt cọc; Cho vay tiền; Cho mượn tài sản như vàng, bạc…

Các giao dịch này, được xác lập chủ yếu xuất phát từ tình thân, hoặc những Người quen biết, cũng như sự cả nể… khiến Bạn hay sơ sài trong việc lập các văn bản ghi nhận nội dung. Đôi khi chỉ là viết vài ba câu biên nhận cho có. Cũng chính vì thế khi xảy ra tranh chấp, vấn đề từ đơn giản thành phức tạp.

Bài viết này sẽ khái quát một cách chung nhất rủi ro pháp lý khi giao dịch dân sự bằng giấy viết tay.

2.1. Chữ ký và Điểm chỉ dấu vân tay

Khi ký kết các Văn bản mà chúng ta hay gọi là "Giấy tay", tức là các bên giao dịch tự lập và ký với nhau, mà không ra Công chứng. Thì trừ những trường hợp luật định như mua bán Nhà, đất. Những giao dịch còn lại như Hợp đồng đặt cọc, cho vay tiền, giấy nhận nợ..... Việc lập "Giấy tay" là có giá trị pháp lý.

Tuy nhiên, khi một bên muốn lật lọng, họ có thể nói rằng, không phải họ ký văn bản đó, chữ ký đó không phải họ ký (Mặc dù đúng là họ ký). Đây sẽ là trường hợp, đôi khi khó chứng minh trên thực tế dù có giám định chữ ký đi chăng nữa. Vì có thể trước đây họ ký khác, giờ họ ký khác nên rất khó để xác định trên thực tế. Đa số các bản kết luận về giám định chữ ký đều có câu: Chữ ký không ổn định, không có cơ sở xác định.....

Từ đó để thấy giải pháp an toàn nhất khi giao kết bằng giấy viết tay thì nên yêu cầu bên còn lại điểm chỉ (lăn tay) vào văn bản. Chữ ký có thể giả, cố tình ký khác đi. Còn dấu vân tay điểm chỉ thì không thể giả được. Và do đó, ít khi họ dám phủ nhận rằng họ không ký Hợp đồng đó.

2.2. Lưu giữ Bản sao y có chứng thực giấy tờ tùy thân

Theo quy định của Pháp luật về tố tụng dân sự, khi Bạn muốn kiện ai, thì phải ghi rõ tên tuổi, nơi thường trú của Bị đơn ..... Kèm theo Đơn khởi kiện, Bạn phải nộp kèm Giấy tờ tùy thân của họ như Chứng minh thư, Sổ hộ khẩu bản sao y chứng thực, chí ít cũng phải có bản sao ..... Nếu không việc này dễ bị gây khó khăn khi thụ lý Đơn kiện.

Do đó, vào thời điểm xác lập giao dịch, như ký Hợp đồng đặt cọc, cho vay tài sản.... Bạn nên đề nghị Bên kia, gửi cho Bạn vài bản sao y có chứng thực Chứng minh thư, sổ hộ khẩu của họ nhằm sử dụng khi có tranh chấp xảy ra.

2.3. Lưu ý cam đoan của một người về trách nhiệm của người khác là không có giá trị

Nhiều người, khi cho ai đó vay, mượn tài sản.... Hoặc các vấn đề khác liên quan đến tài sản, đều đề nghị Bên vay ghi thêm nội dung: "Trong trường hợp tôi không trả được nợ, thì Con tôi là Nguyễn Văn B, Trần Thị C .... có trách nhiệm trả nợ....".

Cam kết này không có giá trị pháp lý gì với Anh B, Chị C cả. Bởi vì Anh B, Chị C không trực tiếp tham gia giao dịch của Cha mẹ mình, cũng không ủy quyền..... Cho nên Bạn không thể cầm tờ giấy đó đi đòi nợ Anh B, Chị C. Trừ khi họ tự nguyện trả nợ thay cho Cha mẹ mình.

2.4. Biết mà không phản đối là Đồng ý

Theo quy định của pháp luật về định đoạt tài sản chung. Ví dụ tài sản chung của Vợ chồng về mặt nguyên tắc là cả hai vợ chồng phải đồng ý. Sự đồng ý thường phải thể hiện bằng hình thức rõ ràng nhận diện tức hai vợ chồng cùng ký kết văn bản.

Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, ví dụ chỉ có một mình người chồng ký kết Hợp đồng đặt cọc bán nhà, đất với người mua, người vợ không ký. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định rằng người vợ có biết, và không phản đối thì xem như người vợ cũng đồng ý.

Do đó, nếu là người vợ (chồng) trong trường hợp này bạn phải lưu tâm về vấn đề này. Khi vợ hoặc chồng mình bán buôn tài sản gì là tài sản chung, nếu không đồng ý là phải phản đối ngay, bằng cách thông báo ngay đến bên kia, là bạn không đồng ý. Còn nếu bạn biết, mà lại im lặng, không phản đối gì cả, là xem như đã đồng ý.

Lưu ý: Việc biết mà không phản đối là đồng ý, đang nói đến ở đây, là chỉ gói gọn áp dụng khi định đoạt tài sản chung. Còn những vấn đề khác, ví dụ: Người mẹ cam kết con sẽ trả nợ thay, như ví dụ ở mục trên, thì người con dù biết, mà không phản đối, không có nghĩa là họ đồng ý. Vì vốn dĩ họ không liên quan gì đến giao dịch đó cả.

2.5. Cần rõ ràng khi góp tiền mua chung tài sản

Thực tế hay xảy ra trường hợp, hai anh em ruột, hay họ hàng hoặc đôi bạn thân cùng nhau góp tiền mua chung một tài sản. Nhưng lại chỉ cho một người đứng ra giao dịch mua bán. Bình thường thì không sao, nhưng đến khi tranh chấp, thì lại không có chứng cứ gì. Do vậy, để tránh tranh chấp thì khi chung vốn mua bán hoặc là cùng đứng ra mặt mua, ký kết giấy tờ; Hoặc phải có văn bản thỏa thuận ghi rõ nội dung việc góp tiền này. Nhằm lưu lại chứng cứ về sau. Thông thường vì chúng ta hay cả nể, vì tế nhị, nên ngại rõ ràng nhưng cũng chính bởi vậy mà xảy ra nhiều hệ lụy xấu về sau. Bởi đó, Luật Minh Khuê hy vọng, sau khi đọc bài viết này, quý vị có thể sẽ thận trọng hơn khi góp tiền làm ăn hay mua bán chung cùng người khác nên có văn bản thỏa thuận rõ ràng về việc góp tiền để sau này có tranh chấp sẽ có căn cứ để giải quyết.

3. Hợp đồng vay tiền không ghi thời hạn trả nợ xử lý sao?

Chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có thắc mắc cần được luật sư hỗ trợ ạ. Năm ngoái mẹ tôi có cho cậu vay khoản tiền là 20 triệu lấy lãi hàng tháng nhưng lãi này sẽ được tính gộp cho đến khi trả gốc sẽ trả lão luôn. Trên giấy vay tiền không ghi thời hạn trả nợ, đến nay cần tiền mẹ tôi đến hỏi thì cậu nói trước đây khi vay không ghi khi nào phải trả tiền nên giờ mẹ tôi đòi như thế này cậu ấy không trả được. Mà mẹ tôi thì cần tiền. Theo luật sư, giờ tôi phải xử lý như thế nào?

Người gửi: Nông Bằng - Hà Giang

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi thắc mắc tới công ty Luật Minh Khuê, nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Với việc cho vay tiền lấy lãi thường mọi người luôn nghĩ là cho vay càng lâu càng có nhiều lãi nên không quan tâm tới việc ghi thời hạn trả nợ. Tới khi đi đòi tiền mới ngã ngửa vì bên cho vay thì nghĩ rằng không ghi thời hạn trả nợ, nên muốn đòi lúc nào thì đòi. Còn bên đi vay, lại cho rằng vì không ghi thời hạn, nên muốn trả lúc nào cũng được. Từ đó mà nảy sinh tranh chấp và dẫn đến việc kiện tụng lẫn nhau.

Nhằm giúp bạn hiểu thêm vấn đề đang bàn đến, cũng như có phương án bảo vệ quyền lợi của mình, Luật Minh Khuê luận giải, phân tích các nội dung pháp lý có liên quan đến Hợp đồng vay tiền không ghi thời hạn trả nợ như sau:

3.1. Bản chất pháp lý của hợp đồng vay không thời hạn

Hợp đồng vay tiền không ghi thời hạn trả nợ, trong ngôn ngữ pháp lý gọi là hợp đồng vay không kỳ hạn. Nghĩa rằng vào thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng: Tất cả các bên tham gia, đều không biết, không xác định được thời điểm nào sẽ phải trả nợ.

Ví dụ 1: Ông A cho Ông B vay 500 triệu đồng, lãi suất 1%/Tháng, thời hạn vay là 06 tháng. Đây là Hợp đồng vay có kỳ hạn, tức là Hợp đồng vay có ghi rõ thời hạn trả nợ vay: 06 tháng.

Ví dụ 2: Bà H cho Bà N vay 1 tỷ đồng, lãi suất 1%/Tháng, không ghi thời hạn vay, thời hạn trả nợ. Đây là Hợp đồng vay không kỳ hạn, tức là Hợp đồng vay không ghi rõ thời hạn trả nợ vay là lúc nào.

Tuy nhiên, bạn không nên cho rằng hợp đồng vay không kỳ hạn, không ghi thời hạn trả nợ, nghĩa rằng thời hạn vay là "vô thời hạn" mà việc xác định thời điểm trả nợ của loại hợp đồng này, trở nên phức tạp hơn.

3.2. Tranh chấp về việc xác định thời điểm phải trả nợ

Nếu Bạn cho rằng, việc hợp đồng vay không ghi thời hạn trả nợ, Bên cho vay sẽ chịu bất lợi, Bên đi vay sẽ hưởng lợi, hoàn toàn không phải vậy. Điều đó còn tùy vào từng trường hợp và bất lợi cho bên vay hay bên cho vay là đồng đều. Bởi lẽ, luật quy định rằng: Đối với hợp đồng vay không ghi thời hạn trả, thì bên cho vay có quyền đòi lại tiền vào "bất kỳ lúc nào" nhưng phải báo trước cho bên vay, một thời gian hợp lý. Quy định này, có 02 yếu tố bạn phải lưu ý:

Thứ nhất, được đòi nợ vào bất kỳ lúc nào

Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn, tức có ghi thời hạn trả nợ, thì Bên cho vay, chỉ được đòi khi đã đến hạn.

Ví dụ 3: Ông A cho Ông B vay 500 triệu đồng, lãi suất 1%/Tháng, thời hạn vay là 06 tháng. Thì phải đợi hết 06 tháng, Ông A mới được quyền đòi Ông B trả nợ cho mình.

Tuy nhiên, ssối với hợp đồng vay không kỳ hạn, không ghi thời hạn trả thì bên cho vay có quyền đòi nợ bất kỳ lúc nào.

Ví dụ 4: Bà H cho Bà N vay 1 tỷ đồng, lãi suất 1%/Tháng, không ghi thời hạn vay, thời hạn trả nợ. Trong trường hợp này, Bà H có quyền đòi nợ bất kỳ lúc nào, chỉ cần báo trước thời gian hợp lý. Có thể mới cho vay 15 ngày, cũng đã được đòi.

Rõ ràng, từ những phân tích trên, rất khó, để nói bên vay có lợi vì hợp đồng không ghi thời hạn.

Thứ hai, được đòi nợ bất kỳ lúc nào nhưng phải báo trước thời hạn hợp lý

Nhưng thế nào và trong bao lâu là hợp lý, thì luật lại không quy định.

Một khoản vay 10 triệu, báo trước phải trả trong vòng 10 ngày, có thể hợp lý, nhưng khoản vay 500 triệu, báo trước 10 ngày có được xem là hợp lý? Và đối với những khoản vay hàng tỷ đồng, thì phải báo trước bao lâu là hợp lý: 1 tháng, 3 tháng, hay 6 tháng? Tranh chấp chính là ở chỗ này. Bên cho vay cho rằng báo trước như thế là hợp lý, ngược lại bên vay lại cho rằng như thế là không hợp lý.

3.3. Phương án đề xuất

Từ phân tích trên, cho thấy rằng: Hợp đồng vay không kỳ hạn, không ghi thời hạn trả nợ, luôn có những rủi ro pháp lý nảy sinh, kéo theo những tranh chấp, kiện tụng lẫn nhau. Vì vậy, khi Bạn giao kết hợp đồng vay, nên lựa chọn một trong hai hình thức quy định về thời hạn trả nợ như sau:

Ghi thời hạn trả nợ bằng mốc thời gian cố định

Ví dụ 5: Không muộn hơn ngày 30 tháng 12 năm 2020, Bên B phải trả đầy đủ số tiền đã vay là 01 tỷ đồng cho Bên A; Hoặc: Thời hạn vay là 06 tháng, tính từ ngày 01/02/2020, Bên B phải trả nợ đầy đủ cho Bên A ngay khi hết thời hạn vay này!

Ghi cụ thể thời hạn báo trước

Tức là Hợp đồng vay vẫn thuộc loại Hợp đồng không kỳ hạn, không ghi thời hạn trả vào thời điểm nào, nhưng phải ghi rõ thời gian báo trước.

Ví dụ 6: Bên A có quyền yêu cầu Bên B phải trả đầy đủ số tiền 01 tỷ đã vay, vào bất kỳ lúc nào, nhưng phải báo trước cho Bên B biết trước 60 ngày.

Ngoài ra, để tránh tranh chấp việc đã nhận được thông báo hay chưa, hình thức thông báo thế nào, thì các bên phải ghi rõ luôn hình thức thông báo.

Ví dụ 7: Bên B mặc nhiên được coi là đã nhận được thông báo yêu cầu trả nợ của Bên A, khi tin nhắn từ điện thoại Bên A xác định đã gửi tin nhắn thành công, bất kể Bên B có đã xem tin nhắn hay chưa. Bên B bảo đảm, số điện thoại đã cung cấp cho Bên A là chính xác và luôn hoạt động. Phải quy định như vậy, nhằm hạn chế việc tranh cãi là chưa nhận được tin nhắn, chưa nhận được thông báo.

Và kết luận như đã rất nhiều lần trước đó Luật Minh Khuê khuyến nghị tới bạn: nếu mọi thứ đều dựa trên sự tín nhiệm, thì không có gì đáng bàn. Tuy nhiên, từ thực tiễn những tranh chấp đã xảy ra, bạn nên cẩn trọng khi tham gia những giao dịch như vậy. Hãy luôn tỉnh táo khi giao kết hợp đồng, mọi thứ phải được rõ ràng và chi tiết.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập