1. Khái niệm về kiểu Nhà nước phong kiến

Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là phương thức sản xuất phong kiến với nét đặc trưng là chế độ chiếm hữu ruộng đất của vua chúa phong kiến và giai cấp địa chủ. Lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội là giai cấp nông dân. Xã hội phong kiến có kết cấu xã hội phức tạp, giai cấp thống trị trong xã hội gồm vua, chúa, quan lại, quý tộc (công, hầu, bá, tử, nam), địa chủ, tăng lữ, cố đạo... Giai cấp bị thống trị là các tầng lớp nông dân nghèo, những người lao động tự do, tầng lớp tiểu thương và nông nô.

Kiểu nhà nước phong kiến đã tồn tại trong khoảng hơn 2000 năm ở Trung Quốc từ thế kỉ thứ Ill trước Công nguyên đến năm 1911. Ở Tây Âu nhà nước phong Kiến cũng tồn tại trong khoảng hơn 1000 năm. Ở vùng Trung Á tổn tại từ thế kỉ VII đế năm 1918, ở nước Nga từ thế kỉ thứ IX đến năm 1081 Bản chất của nhà nước phong kiến thể hiện ở việc Xây dựng bộ máy chuyên chính của vua chúa phong kiến và địa chủ. Bộ máy nhà nước là công cụ phục vụ và bảo vệ quyền lợi của vua chúa phong kiến và địa chủ, đồng thời, là công cụ trấn áp giai cấp nông dân và những người lao động khác trong xã hội. Hình thức phổ biến của nhà nước phong kiến là chính thể quân chủ chuyên chế với quyền lực vô hạn của hoàng đế. Bộ máy nhà nước phong kiến mặc dù chưa có sự phân chia cũng như thực hiện quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng ở trung ương cũng đã hình thành nên các bộ với những chức năng khác nhau, còn ở địa phương, các quan lại vừa thực hiện quyền cai trị hành chính, đồng thời, vừa là các quan toà thực hiện chức năng xét xử.

Những pháp luật phong kiến đã làm nên vô vàn điều tốt và điều xấu, đã để lại những thứ quyền khác nhau khi ban phát các lãnh địa cho nhiều người, giảm bớt quyền lực cả một lãnh địa, đặt ra giới hạn trong các đế quốc quá rộng lớn, đặt ra luật lệ với một khuynh hướng vô chính phủ, một thứ vô chính phủ với định hướng đi tới trật tự và hài hòa.

Việc này đòi hỏi một công trình nghiên cứu rành mạch, nhưng qua tính chất của nó, người ta sẽ tìm ra các thứ luật như tôi đã xem xét và phân tích.

Các luật phong kiến thật là một hiện tượng đẹp: Một cây sồi cổ thụ cao vút, từ xa người ta trông thấy tán lá, đến gần sẽ thấy thân cây, nhưng không thấy rễ, phải chọc xuống đất mới hiểu được gốc rễ của nó.

2. Bản chất của Nhà nước phong kiến

Cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp của xã hội phong kiến đã quyết định bản chất của Nhà nước phong kiến. Nhà nước phong kiến xét về mặt giai cấp là công cụ chuyên chính chủ yếu của giai cấp địa chủ phong kiến để chống lại nông dân và những người lao động khác nhằm củng cố, bảo vệ sự thống trị về mọi mặt của địa chủ phong kiến.

Quyền lực Nhà nước trong chế độ phong kiến là quyền lực được duy trì theo cách thức cha truyền cáp nối. Ngoài quyền lực Nhà nước còn phải kể đến quyền lực của các tổ chức tôn giáo (thần quyền) cũng có vai trò rất lớn trong đời sống chính trị của đất nước. Trong xã hội phong kiến, các tổ chức tôn giáo còn đồng thời là tổ chức kinh tế (các tổ chức tôn giáo có rất nhiệt đất đai và các tài sản quý khác), tổ chức chính trị (các tổ chức tôn giáo có quyền đặt ra luật lệ riêng, có quyền thu thuế, có các đội quân vũ trang, có toà án riêng...) và là trung tâm văn hoá (các tổ chức tôn giáo có thể mở trường học, thành lập các viện nghiên cứu về khoa học, nghệ thuật..:). Với những ưu thế về kinh tế, chính trị, văn hóa như vậy, các tổ chức tôn giáo thường can thiệp, chi phối các công việc của Nhà nước phong kiến, đôi khi lấn át Nhà nước trong một số lĩnh vực nhất định đích sử nhân loại thời kỳ trung cổ đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột giữa thần quyền và thế quyền). Tầng lớp tăng lữ, cha cố, sư sãi là những người có học thức cao trong xã hội, do vậy, họ thường được trọng dụng và giữ những cương vị quan trọng trong triều đình. Ở các nước phương Đông, người đứng đầu Nhà nước (vua) cũng chính là người lãnh đạo tôn giáo (giáo chủ).

Chính những đặc điểm trên của xã hội phong kiến mà quyền lực của Nhà nước phong kiến thường thỏa hiệp và liên kết chặt chẽ với quyền lực của các tổ chức tôn giáo thành một chế độ cai trị cực kỳ chuyên chế để đàn áp, áp bức, bóc lột nông dân về thể xác cũng như về tinh thần, đẩy người dân vào tình trạng tối tăm, ngu dốt, lạc hậu, luẩn quẩn trong những “đêm dài trung cổ”.

>> Xem thêm:  Liên minh Châu Âu (EU) là gì ? Tìm hiểu về tổ chức Liên minh Châu Âu (EU)

Ngoài tính giai cấp, Nhà nước phong kiến còn có tính xã hội. Các nhà nước phong kiến tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của đất nước mình luôn tiến hành các hoạt động kinh tế- xã hội vì sự phát triển đất nước, vì lợi ích của nhân dân trong nước, vì sự phồn thịnh của quốc gia. Sự tham gia của các nhà nước phong kiến trong việc giải quyết những công việc của xã hội

là xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của xã hội phong kiến, từ mong muốn và nguyện vọng của nhân dân và cả từ ý chí chủ quan, lòng tết của những người cầm quyền. Trong xã hội phong kiến, khi mà mọi quyền lực đều thuộc về các vua chúa phong kiến thì nền chính trị tết hay xấu trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào nhân cách, phẩm hạnh của vua, chúa và tầng lớp quan lại trong nước. Việc đưa đất nước đến thịnh vượng hay suy vong, nhân dân ấm no hay đói khổ lầm than trong nhiều trường hợp phụ thuộc rất nhiều vào vai trò, sự sáng suốt, nhân từ hay ngu muội, bạo ngược của vua chúa trong đất nước. Tuy nhiên, sự quan tâm tới các hoạt động xã hội của Nhà nước phong kiến chưa nhiều, chưa đúng với vị trí vai trò của nó trong xã hội.

3. Nguồn gốc của luật phong kiến

Các dân tộc chiếm lĩnh vương quốc Rôma là xụất phát từ đất Đức. Tùy chỉ có ít tác giả cổ đại miêu tả .phong tục của họ, chúng ta cũng tìm được hai ông thật là uy tín: César (một vị tướng và chính khách La Mã) và Tacite (nhà sử gia người La Mã).

César trong khi tiến hành chiến tranh ở Đức đã miêu tả phong tục các dân tộc Germain. Dựa vào các phong tục này ông đã điều chỉnh những dự án của mình. ít nhiều trang ghi chép của ông về vấn đề này đáng giá bằng cả mấy kho sách.

Tacite viết một công trình rành mạch về các phong tục của người Germain. Ông viết ngắn thôi; nhưng đó là công trình của Tacite; Ông tóm tắt được tất cả, vì ông đã thấy tất cả.

Hai tác giả này thật ăh ý nhau về các bộ luật của các dân tộc dã man. Đọc César và Tacite, chỗ nào ta cũng thấy được những bộ luật ấy; và đọc những bộ luật ấy chỗ nào ta cũng thấy dược con người César và Tacite.

Trong khi tìm hiểu các luật phong kiến, tôi tự thấy miph đi vào bát quái trận đồ, toàn là những con đường và những khúc ngoặt quanh queo. Đọc hai tác giả này tôi tin rằng mình đã nắm được đầu sợi giây và có thể đi được trong bát quái trận đồ.

4. Quan điểm về phân chia đất đai thời cổ đại

Người Goths (tộc người nguồn gốc ở miền nam Scandinavia hơn 1.000 năm trướ) và người Buorguignons (ở Pháp) sau khi đã tìm cớ này cớ nọ vào được trong lãnh thồ Gaulè, thì dẳn Romain ở đây đành phẫi cấp các nhu yếu phẩm cho họ để họ đừng tàn phá dân cư. Lúc đầu cho họ lúa mì, về sau cấp cho họ đất để trồng tía Các vua chúa hoặc quan lại người Romain ký với họ những bản giao ước phân chia vùng lãnh thổ trong, nước, mà sau này sử biên niên và các bộ luật Visigoths và luật Bourguignons đều ghi lại.

>> Xem thêm:  Liên minh Châu Âu và Cơ cấu tổ chức của Liên minh Châu Âu

Người Francs không làm theo cách này. Trong các bộ luật Salique và luật Riquaire không có dấu vết gì về việc chia đất như thế. Người Francs đến và dùng thủ đoạn chinh phục. Họ học lấy những cái họ muốn biết. Họ tự đặt ra luật lệ trong nội bộ họ.

Cũng cần phân biệt cách làm của người Wisigdths và người Bourguignons ở xứ Gaule cũng như ở Tây; Ban Nha, với cách làm của bọn binh lính; thuộc quyền Augustule (Cựu Hoàng đế La Mã) và Odoacre (Vua Ý vào thế kỷ thứ 5, thời kỳ trị vì của ông đánh dấu sự kết thúc của Đế chế La Mã cổ đại ở Tây Âu) ở Italia cũng như của người Francs ở xứ Gaule, của người Vandales (là tên gọi một bộ tộc Đông German) ở Châu Phi. Người Wisigoths và người Bouguignons thì ký kết, chia đất với dân sở tại; còn người Francs và người Vandales thì không làm như thế.

Người Visigoths và người Boụrguignons có được hai phần ba đất .đai của ngưòi Gaules, nhưng phân tán ra từng khu vực do việc ký kết giao ước như đã nói ở trên. Ngưài Francs tuy cướp bóc nhưng cũng có mức độ. Làm sao họ có thể canh tác nổi một vùng rộng lớn như thế! Họ chỉ lấy những vùng đất thích hợp và để lại những vùng khác cho dân bản địa.

Việc chia đất này không làm theo tinh thần chuyên chế,, mà làm với ý nghĩa tương trợ về nhu cầu đời sống giữa hai dân tộc phải chung sống trên một lãnh thổ.

Luật Bourguignon quy định mỗi người dân Buorguignon được nhận đất với tư cách là khách mời của người Romain. Điểu này phù hợp với phong tục Germain là một dân tộc hiếu khách. Luật quy định người Bourguignons được hai phần ba đất và một phần ba nông nô. Luật tôn trọng thần thánh của cả hai dân tộc. Người Bourguignón làm nghề chăn nụôi nên cần nhiều đất mà chỉ cần ít nông nô. Người Romain trồng tỉa thì cần ít đất mà nhiều nông nô. Rừng thì chia đôi, vì cả hai dân tộc đều cần như nhàu.

Trong luật Bourguignon ta thấy mỗi ngựỡi Bourguignon được thu xếp cho ở trong nhà của người Romain. Số người Romain có đất được chia cũng đông bằng số người Bourguignon. Người Bourguignon quen việc chính chiến, săn bán và chăn nuôi, không chê những vùng hoang vu, để người Romain giữ lại vùng đất phì nhiềù hợp với canh tác. Những đàn gia súc của người Boụrguignon đã cung cấp phân bón cho các cánh đồng người Romain.

5. Đất đai và chế độ nô dịch

Bộ luật của người Bourguignon nói rằng người Bourguignon đến xứ Gaule nhận đừợc hai phần ba đất đai và một phần ba nông nô. Chế độ nô dịch đã có ở xứ Gaưle từ trước khi người Bourguignon tới đây.

Luật Bourguignon áp dụng cho cả hai dân tộc, cổ phân biệt một cách hình thức ba loại người: quý tộc, thường dân và nông nô trong mỗi dân tộc. Như vậy là chế độ nô dịch không phải chỉ có riêng đốì với người Romain và tầng lớp quý phái và dân tự do cũng không phải chỉ có trong số người Bourguignon mà thôi.

Luật này nói rằng một nông nô Bourguignon đã giải phóng mà chưa nộp tiền cho chủ và chưa nhận phần đất thi vẫn coi là người nhà của ông chủ. Côn người dân thường Romain vẫn là người tự do vì anh ta không phụ thuộc vào một gia đình quý tộc nào, và phần đất của anh ta là biểu hiện quyền tự do của anh ta.

>> Xem thêm:  Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (EUROPEAN CENTRAL BANK - ECB) là gì ?

Còn như luật Salique và luật Riquaỉre thì không thấy nói gì về người Romain phải chịu chế độ nô dịch cho người Francs hoặc nhũng kẻ chinh phục khác ở xứ Gaule.

Ý niệm về một quy luật chung trong thòi bị chinh phục là: Nước Pháp thời ấy cố nhiều nô dịch.

Khi bắt đầu giòng thứ nhất có vô số người tự do trong dân chúng Francs hoặc Romain; nhưng số người nô dịch tăng lên. Bắt đầu giòng thứ ba thì toàn bộ dân cày và hầu hết thị dân đều là người nô dịch. Trong thời kỳ của giòng thứ nhất, ở thành thị còn có một tầng lớp tiểu tư sản, một Viện Nguyên lão, một Tòa Tư pháp trong đám người Romain; nhưng đến thời kỳ của giòng thừ ba thì chẳng còn lãnh chúa với nông nô nữa.

Khi các người Francs, Bourguignon và Goths tràn sang xâm chiếm thì họ lấy cả vàng, bạc, bàn ghế, quần áp, bắt cả đàn ông, đàn bà, giao cho quân đội quản lý làm của chung. Thời kỳ ấy luật quốc tế là: tước đoạt hết trong thời chiến và thoả thuận cho lại hết trong thời bình. Ta thấy trong luật Salique và luật Bourguignon đầy rẫy những mâu thuẫn về chế độ nô dịch nói chung đối với con người.

Nhửng cái mà cuộc xâm chiếm chưa tạo ra được thì đến sau khi đã chinh phục xong mới xảy ra; đó là luật quốc tế: Kháng cự, nổi dậy, thành phố bị chiếm đóng, sau đó chế độ nô dịch đối với cư dân. Rồi trong nội bộ người Francs, việc chia ngôi thứ quân chủ làm nảy sinh nội chiến liên miên giữa anh em, chú cháu. Luật quốc tế lại tác động. Chế độ nô dịch trở thành phổ biến ở nước Pháp nhiều hơn các nước khác. Tôi cho rằng đây là điểm khác nhau giữa luật nước Pháp với luật Italia và Tây Ban Nha về quyền của các lãnh chúa.

Cuộc chinh phục chỉ là công việc một thòi. Luật quốc tế thời ấy đã sản sinh ra chế độ nô dịch; và sau đó nhiều thế kỷ việc nô dịch đã lan rộng một cách kỳ lạ.

Théodoric (vua của người Ostrogoth, kẻ cai trị nước Ý, nhiếp chính vương của người Visigoth kiêm tổng trấn của Đế quốc Đông La Mã) vua Italia, có đầu óc chính trị sáng suốt hơn người, khi gửi quân sang xứ Gaule đã viết thư dặn dò tướng lĩnh: "Ta muốn các ngươi hãy theo luật của người Romain; hãy trả những nông nô bỏ chạy về cho chú của chúng nó. Người bảo vệ tự do không bao giờ ủng hộ việc xoá bỏ chế độ nô dịch. Mặc cho các vua chúa khác thích thú với việc cưỡng bức và phá phách những thành thị họ chiếm được; chúng ta thì khác: chúng ta chỉ muốn chiến thắng mà các thần dân mới đều than phiền vì sao họ được làm thần dân của ta muộn như vậy". Rõ ràng là vua Théodoric muốn làm cho các vựa người Francs và người Bourguignon trở thành đáng ghét, đáng ghê tởm, để nêu cao luật quốc tê của mình một cách bóng gió. Vô số đất đai của người tự do trở thành đất đài cửa lãnh chúa. Những kẻ có nhiều nông nô chiếm lĩnh những vùng đất rộng lớn, lập thành làng mạc. Có những chủ đất đem hiến cho Giáo hội để được ghi vào sổ kiểm kê; họ tin rằng thế là được phục vụ Đấng thiêng liêng qua Giáo hội.