Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự  công ty Luật Minh Khuê.

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003  

2. Luật sư tư vấn:

Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là chủ thể mang quyền lực trong quan hệ với người bào chữa là Luật sư. Trong quan hệ pháp luật hình sự tồn tại hai quan hệ chủ đạo mệnh lệnh - quyền uy và quan hệ bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng này. Cụ thể, quan hệ mệnh lệnh quyền uy mang tính quyền lực nhà nước được thể hiện qua một số hoạt động tố tụng: Chỉ định luật sư tham gia vụ việc....Đặc biệt, việc Luật sư tham gia tố tụng cần tuân thủ quy định pháp luật và những yêu cầu đặc thù của từng cơ quan tiến hành tố tụng: Viện kiểm sát, cơ quan điều tra,...Tuy nhiên, mối quan hệ giữa luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự còn tồn tại quan hệ bình đẳng. Điều này được thể hiện rõ trong quy định pháp luật về quyền của Luật sư khi tham gia tố tụng. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

Điều 58. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

...

2. Người bào chữa có quyền:

a) Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

b) Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;

c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

d) Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;

đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;

g) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

h) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;

i) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

k) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này."

Như vậy, có thể thấy rằng quan hệ giữa Luật sư và cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng không chỉ đơn thuần mang tính quyền lực nhà nước. Đặc biệt, tính bình đẳng được thể hiện rõ trong các hoạt động thực tiễn mặc dù Sự có mặt của luật sư không chỉ do yêu cầu của đương sự… mà trong nhiều trường hợp là do sự trưng cầu của Tòa án hoặc Viện kiểm sát hoặc do cơ quan điều tra… Trong nhiều trường hợp, sự hiện diện của luật sư là bắt buộc, không thể thiếu.

Tham khảo bài viết liên quan:

Nhu cầu luật sư 

Truyện cười: " Nghề Luật sư" 

Nghề luật và nghề luật sư 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự.