1. Nhiệm vụ, quyền hạn của toà án trong tố tụng dân sự

Nhiệm vụ, quyền hạn chung của các toà án được quy định trong Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 tại các điều 2, 20, 29, 37, 43 ... Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các toà án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Là cơ quan xét xừ, ttong tố tụng dân sự toà án có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Thụ lý vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền để giải quyết;

- Lập hồ sơ vụ việc dân sự;

- Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ việc dân sự thẹo quy định cùa pháp luật;

- Quyết định áp dụng thay đổi, huỷ bỏ biện phập khẩn cấp tạm thòi theo quy định của pháp luật;

- Tổ chức phiên toà dân sự để xét xử vụ án dân sự và tổ chức phiên họp để giải quyết việc dân sự;

- Chuyển giao các bản án, quyết định và các văn bản tố tụng khác cho viện kiểm sát, cơ quan thi hMnh án dân sự, những người tham gia tố tụng và những người liên quan theo quy định của pháp luật;

- Giải thích bản án, quyết định của toà ẩn;

- Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của những người tiến hành tố tụng gây ra.

- Giải quyết các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền.

Trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không có điều luật quy định tổng quát nhiệm vụ, quyền hạn của toà án trong tố tụng .dân sự. Tuy vậy, tại các điều 13, 26, 27, 28, 29, 30, 31,'32, 33,34, 35, 36, 37, 88, 97, 111, 170, 191, 195, 196, 204, 212, 214, 217, 225, 285, 289, 298, 300, 317, 324, 329, 343, 356, 363, 370 và các điều luật khác của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của toà án về những lĩnh vực cụ thể trong tố tụng dân sự.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát trong tố tụng dân sự

Nhiệm vụ, quyền hạn chung của các viện kiểm sát được quy định trong Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 tại các điều 2, 27, 28, 29, 30 ... Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của viện kiểm sát trong tố tụng dân sự do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Là cơ quan kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong tố tụng dân sự viện kiểm sát có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án như kiểm sát vỉệc thụ lý, lập hồ sơ, hoà giải, xét xử, ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật ttong việc tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng và những người liên quan trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự;

- Yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị các bản án, quyết định của toà án theo quy định của pháp luật nhằm bào đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật;

- Thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và bảo vệ quan điểm kháng nghị của mình tại phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm;

- Tham gia các phiên toà xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án theo quy định của pháp luật (Xem: Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự và Thông tư liên tịch của Toà án nhân dân tối cao và VKSNDTC số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 quy định việc phối hợpgiữa viện kiểm sát và toà án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự);

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, chấp hành viên, cá nhân và tổ chức liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của toà án; kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án;

- Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của toà án, cơ quan thi hành án và những người có thẩm quyền ttong việc giải quyết các khiếu nại phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành ẩn dân sự; giải quyết các khiếu nại thuộc thẩm quyền của viện kiểm sát ...

Các nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát xuất từ quyền giám sát hoạt động tuân theo pháp luật của cơ quan quyền lực. Việc thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát có tác dụng bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự được đúng đắn. Trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không có điều luật quy định tổng quát nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát. Tuy vậy, tại các điều 21, 140, 220, 232, 262, 278, 290, 294, 306, 319, 324, 329, 331, 354 và một số điều luật khác của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát trong từng lĩnh vực cụ thể trong tố tụng dân sự.

3. Về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát

Tiếp tục kế thừa quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát, tại khoản 6 điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: "Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm".
Đồng thời, bổ sung quy định Kiểm sát viên khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn “Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này” (khoản 3 Điều 58);
Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, ngườithẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (trong đó có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao) có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết.

4.Về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

Điều 331 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
"1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ".
Điều 354 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:
"1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ".
Như vậy, để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi quy định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, theo đó: bỏ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huyện của Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện bổ sung quyền kháng nghị cho Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

5.Thẩm quyền của TAND cấp tỉnh

TAND cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm

  • Những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được quy định trong bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 BLTTDS.
  • Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của BLTTDS, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;
  • Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này.
  • Vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại Điều 35 của BLTTDS mà TAND cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của TAND cấp huyện.

Như vậy, các Tòa chuyên trách của TAND cấp tỉnh sẽ lần lượt có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh quy định tại Điều 38 của BLTTDS 2015.

TAND cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm

  • Những vụ việc mà bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của TAND cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS 2015.
  • Thẩm quyền của TAND cấp cao

  • TAND cấp cao có thẩm quyền phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng;
  • TAND cấp cao giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.
  • Thẩm quyền của TAND tối cao

    Theo quy định tại Điều 20, 22, 23 của Luật tổ chức TAND 2014 và Điều 337, 358 BLTTDS 2015, TAND tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tụng dân sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê