1. BLTTHS 2015 phản ánh đầy đủ các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tại Chương III quy định: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thay cho Chương III Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có tên gọi: “Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng". Sự thay đổi này không chỉ ở tên gọi mà quan trọng hơn là xác định chính xác phạm vi, vị trí, vai trò cũng như quyền hạn, trách nhiệm; quyền và nghĩa vụ của các cơ quan này khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án theo định hướng của các nghị quyết về cải cách tư pháp và chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp của Hiến pháp năm 2013. Nói cách khác, chính sách pháp luật tố tụng hình sự, thực tiễn hoạt động của các cơ quan nhà nước khi tiến hành tố tụng, yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm và yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước trong giai đoạn hiện nay đã quyết định sự thay đổi này của Bộ luật tố tụng hình sự. Đây là điểm khác biệt lớn, khắc phục được những hạn chế của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, trong khi, trên thực tế, một số các cơ quan, cán bộ tham gia vào quá trình giải quyết vụ án và có quy định quyền hạn, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của cơ quan và người này ở các điều luật liên quan của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng lại không xác định vị trí tố tụng của các cơ quan và người này.
Có thể thấy, tên gọi của Chương III Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng" và được giải thích tại Điều 4 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã chính xác hơn, phản ánh đầy đủ các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án với những vị trí, vai trò và mức độ tham gia khác nhau của các chủ thể này trong hoạt động tố tụng giải quyết vụ án. Theo điều luật này thì: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm a khoản 1) và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm người tiến hành tố tụng và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm b khoản 1). Quy định này đã đưa ra khái niệm có tính chất bao quát “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng” với nội hàm gồm hai loại cơ quan: Cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Tương tự như vậy, khái niệm “Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng" cũng gồm hai loại: Người tiến hành tố tụng và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số’ hoạt động điều tra.
2. BLTTHS 2015 mở rộng phạm vi chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định, ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) còn quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước khác và người có thẩm quyền trong các cơ quan này được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đối với những tội phạm xảy ra trong lĩnh vực cơ quan đó quản lý, như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân; khi tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết vụ án các cơ quan này có các quyền hạn, trách nhiệm theo quy định của pháp luật (Điều 104 và Điều 111). Tuy nhiên, những cơ quan và người có thẩm quyền trong các cơ quan này chưa được xác định là chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, chưa có vị trí tương xứng với nhiệm vụ tố tụng được giao nên ảnh hưởng tới tính chịu trách nhiệm đối với những hành vi tố tụng do họ thực hiện, cũng như không đề cao được vai trò của các cơ quan này trong quá trình điều tra giải quyết vụ án. Tương tự như vậy, những cán bộ được phân công trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra ở những cơ quan này cũng không có chức danh tố tụng, không được pháp luật quy định quyền hạn và trách nhiệm khi tiến hành điều tra, do đó, không những ảnh hưởng đến yêu cầu giải quyết vụ án mà còn có thể làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của họ trong những trường hợp nhất định. Chương III Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã khắc phục được những hạn chế này.
Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Chương III Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 rộng hơn, bao quát và đầy đủ hơn so với trước đây, không những chỉ điều chỉnh hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bao gồm cả Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên mà còn điều chỉnh hoạt động của cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
3. Khái niệm cơ quan tiến hành tố tụng
Điều 34 khoản 1 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Quy định này về cơ bản tương tự như quy định tại Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, theo đó cơ quan tiến hành tố tụng gồm có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án với các chức năng tương ứng là chức năng điều tra, chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng hình sự, chức năng xét xử. Khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng hình sự ở nước ta có cách hiểu tương đối thống nhất về cơ quan tiến hành tố tụng, theo đó: “Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao các chức năng tố tụng trong việc khởi tố điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hình sự hướng tới việc bảo đảm phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội góp phẩn bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”.
4. Các đặc điểm của cơ quan tiến hành tố tụng
Từ khái niệm đã chỉ ra các đặc điểm của cơ quan tiến hành tố tụng và có ý nghĩa phân biệt với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đó là:
- Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao thực hiện việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hướng tới việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. ở nước ta, việc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập quyền với quan niệm hoạt động tư pháp không chỉ có hoạt động xét xử mà còn có cả hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và thi hành án. Do đó, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm giải quyết trọn vẹn ít nhất một chức năng của tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra có chức năng điều tra, Viện kiểm sát có chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Tòa án có chức năng xét xử;
- Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hướng tới mục đích khách quan, công bằng của tố tụng hình sự. Khách quan, công bằng không những là đòi hỏi tất yếu khi giải quyết vụ án mà còn là đòi hỏi đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và trở thành nguyên tắc trách nhiệm của những cơ quan này được quy định trong luật tố tụng hình sự nước ta;
- Các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án. Thủ tục tố tụng giải quyết vụ án hình sự đòi hỏi tính chặt chẽ, dân chủ, tranh tụng, minh bạch, tôn trọng công lý, bảo vệ quyền con người và được thể hiện trong các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự thông qua việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật. Đến lượt mình, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, làm cho các quy định của pháp luật được thể hiện đầy đủ nhất trong thực tiễn giải quyết vụ án. Tất cả mọi tư tưởng tiến bộ được quy định trong pháp luật tố tụng sẽ trở thành vô nghĩa nếu các quy phạm pháp luật không được các cơ quan tiến hành tố tụng thực thi một cách nghiêm chỉnh.
Đối với Tòa án, bên cạnh chức năng xét xử còn đặt ra yêu cầu: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” của Hiến pháp năm 2013 (khoản 5 Điều 103). Vì vậy, trên cơ sở nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 26 “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Tòa án để thực hiện nguyên tắc này hướng tới việc xét xử khách quan, công bằng. Đây là sự khác biệt so với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
5. Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng
Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
- Tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều ưa chuyển giao;
- Tiến hành điều tra các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật định để phát hiện, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; lập hồ sơ, đề nghị truy tố;
- Tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.
Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lí của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm ưa, xác minh và điều ưa theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát có 2 chức năng và quyền hạn chính, đó là:
- Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố, nhân danh nhà nước buộc tội;
- Kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động của viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lí, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Toà án có các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
- Xét xử vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm: Toà án nghiên cứu hồ sơ vụ án và tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật; ra bản án và các quyết định cần thiết khác để giải quyết vụ án;
- Xét lại các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
- Ra quyết định đưa bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp.