Quản lý tài sản là trông coi và giữ gìn tài sản, bảo đảm cho tài sản không bị mất mát, hao hụt trừ những hao mòn tự nhiên. Chế độ quản lý từng loại tài sản do pháp luật quy định hoặc theo thỏa thuận của các bên.

 

1. Khái niệm quản lý tài sản 

Quản lý tài sản (Tiếng anh là: Asset management) là một thuật ngữ được hiểu khá rộng, đề cập đến việc giám sát của bất kỳ hệ thống nào áp dụng cho tài sản vô hình hoặc hữu hình. Dưới góc độ pháp lý, quản lý tài sản được hiểu như là việc trông coi và giữ gìn tài sản, bảo đảm cho tài sản không bị mất mát, hao hụt trừ những hao mòn tự nhiên. 

Phạm vi điều chỉnh pháp luật về quản lý tài sản rất rộng, được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 và trong luật riêng là Luật quản lý sử dụng tài sản công năm 2017 quy định riêng về lĩnh vực quản lý tài sản công. Tại bài viết này, Luật Minh Khuê sẽ khái quát các quy định pháp luật cơ bản nhất về quản lý tài sản tư và công trong hai Bộ luật trên đây: 

 

2. Quy định của pháp luật về quản lý tài sản tư 

2.1. Quản lý tài sản của người được giám hộ 

Người được giám hộ là những người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ; người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. 

Và những người thuộc trường hợp như trên sẽ không thể nào mà tự làm chủ được hành vi và nhận thức của mình đối với các tài sản của họ. Lúc này tài sản của họ sẽ được quản lý bởi người giám hộ của họ. Việc quản lý tài sản của người được giám hộ lúc này sẽ được coi như là người giám hộ đang quản lý tài sản của chính mình, người giám hộ sẽ được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. 

Tuy nhiên việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọ và các giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ thì phải cần có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. 

Cùng với đó, người giám hộ sẽ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

 

2.2. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú 

Nơi cư trú được định nghĩa theo pháp luật về cư trú là nơi mà công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú. Trong trường hợp người vắng mặt tại nơi cư trú thì Tòa án dựa trên yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan sẽ giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho một trong những người sau đây quản lý: 

- Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý 

- Đối với tài sản chung thì do sở hữu chung còn lại quản lý 

- Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý. Nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý 

Trong trường hợp không có những người nêu trên thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản. Nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản. Cũng tương tự như trường hợp quản lý tài sản của người được giám hộ, người quản lý tài sản trong trường hợp người vắng mặt tại nơi cư trú cũng có các quyền và nghĩa vụ cụ thể sau đây:

- Thứ nhất xét về nghĩa vụ thì người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình, bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng; thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án; Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa án biết. Nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì sẽ phải chịu bồi thường

- Thứ hai là xét về quyền thì người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có quyền quản lý tài sản của người vắng mặt, trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt và được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người vắng mặt. 

 

2.3. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích 

Người bị Tòa án tuyên bố mất tích là người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích

Và lúc này người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú như đã phân tích ở trên vẫn sẽ tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của người quản lý tài sản trong trường hợp người vắng mặt tại nơi cư trú. 

 

3. Quy định của pháp luật về quản lý tài sản công 

Tài sản công được hiểu là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác. 

Như vậy pháp luật về quản lý tài sản công ở đây sẽ điều chỉnh 07 trường hợp là tài sản công tại cơ quan, đơn vị, tổ chức; tài sản công tại cơ quan nhà nước; tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập; tài sản công tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân; tài sản công tại các tổ chức xã hội; tài sản công tại cơ quan dự trữ nhà nước và tài sản công tại doanh nghiệp. Với mỗi trường hợp sẽ có những quyền và nghĩa vụ riêng của những cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý tài sản công. Tuy nhân vẫn phải đảm bảo được những nguyên tắc chung trong quản lý tài sản công sau đây: 

- Mọi tài sản công đều phải được Nhà nước giao quyền quản lý, quyền sử dụng và các hình thức trao quyền khác cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đối tượng khác theo quy định của Luật quản lý sử dụng tài sản công năm 2017 

- Tài sản công do Nhà nước đầu tư phải được quản lý, khai thác, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, được thống kê, kế toán đầy đủ về hiện vật và giá trị, những tài sản có nguy cơ chịu rủi ro cao do thiên tai, hỏa hoạn và nguyên nhân bất khả kháng khác được quản lý rủi ro về tài chính thông qua bảo hiểm hoặc công cụ khác theo quy định của pháp luật. 

- Tài sản công là tài nguyên phải được kiểm kê, thống kê về hiện vật, ghi nhận thông tin phù hợp với tính chất, đặc điểm của tài sản; được quản lý, bảo vệ, khai thác theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng pháp luật 

- Việc quản lý, sử dụng tài sản công phải được thực hiện công khai, minh bạch, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng 

- Việc quản lý, sử dụng tài sản công được giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; mọi hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công đều phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật. 

Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!