1. Trình tự thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế ?

Kính mong luật sư tư vấn giúp tôi. Đầu năm 2010 bố mẹ tôi mất. Nhà có ba anh em trai. Trước khi mất bố mẹ tôi có để lại 2 căn nhà cho ba anh em chúng tôi. Nhưng sổ đất vẫn còn đứng tên của bố mẹ. Do tin tưởng anh cả trong gia đình tôi nên em út tôi giao sổ cho anh đầu giữ. Đến giữa năm 2014 thì anh cả tự ý sang tên 2 căn nhà trên và bán cho người khác. Tôi và em út không hề ký tên hay đồng ý củng như không hề biết gì.
Vậy giờ tôi muốn khởi kiện, để đòi lại 2 căn nhà trên cần làm như thế nào?
Mong tin của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn !

Chuyển quyền sử dụng nhà ở đối với tài sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định Bộ Luật dân sự 2015.

Điều 650 bộ luật Dân sự năm 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật bao gồm:

“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Do bố mẹ bạn không để lại di chúc nên phần di sản thừa kế do bố mẹ bạn để lại sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm ba anh em bạn và mỗi người sẽ được nhận 1 phần di sản bằng nhau theo quy định tại điều 650 bộ luật dân sự 2015. Việc anh cả tự ý sang tên 2 căn nhà tên và bán cho người khác là không đúng với quy định pháp luật do di sản thừa kế chưa được chia.

Ngoài ra, bạn và anh bạn đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất khi tài sản thừa kế chia theo pháp luật theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 :

" 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;"

Về thời hiệu khởi kiện thừa kế Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy thời hiệu khởi kiện về chia di sản thừa kế vẫn còn (10 năm) nên bạn có thể làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận, huyện nơi có bất động sản là ngôi nhà do bố mẹ bạn để lại.

Thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế :'

Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết các vụ việc tranh chấp tài sản thừa kế thuộc về Tòa án.

Để khởi kiện đòi lại phần di sản được chia tức là 2 căn nhà trên bạn cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện sau:

+ Đơn khởi kiện;

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, CMTND, giấy chứng nhận kết hôn của bố mẹ bạn(nếu có), sổ hộ khẩu,

+ Giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở…

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

* Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn (cấp xã); Biên bản giải quyết trong họ tộc ( nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản (nếu có).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Cách xử lý đối với tài sản thừa kế chung ?

Kính chào Luật sư. Xin Luật sư tư vấn giúp tôi về việc như sau. Sau khi ba mẹ tôi mất có để lại di chúc phân chia tài sản cho các con. Ba mẹ tôi uỷ quyền cho anh thứ 6 hiện nay xuất gia là người thực hiện phân chia theo di chúc. Phần phân chia đã xong. Theo di chúc để lại: 2/9 để tế tự hằng năm và 3/9 để giúp đỡ các anh em gia đình lúc khó khăn. Toàn bộ phần này do anh 6 tôi quản lý. Di chúc được chia từ năm1992. Gia đình tôi gồm 8 thành viên, nay đã mất khá nhiều, chỉ còn anh 3 hiện ở nước ngoài, anh 6 và tôi là em út. Hiện tại tôi thờ ông bà và cửu huyền. Cuộc sống của tôi rất khó khăn và đang thuê phòng trọ để ở. Tôi đã nhiều lần đến anh 6 để muốn nhận phần được giúp đỡ theo di chúc để lại. Anh 6 tôi hiện nay là trụ trì chùa, nhưng không làm theo giấy ủy quyền của di chúc.
Vậy, kính mong Luật sư tư vấn giúp tôi, nên làm gì và làm sao để nhận được phần tế tự + phần giúp đỡ anh em theo di chúc cha me tôi để lại? Xin nói thêm, từ lúc cha và mẹ còn sống đến lúc bệnh tôi là người chăm sóc đến khi ba mẹ qua đời ?
Rất mong sự hướng dẩn từ Luật sư. Kính chúc văn phòng và Luật sư nhiều may mắn và thành công trong công việc!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật dân sự 2005 quy định về di sản dùng cho việc thờ cúng như sau:

Điều 670. Di sản dùng vào việc thờ cúng

1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Theo đó, bạn hoàn toàn có quyền được nhận phần di sản thờ cúng mà ba mẹ để lại. Phần tài sản để giúp đỡ anh em lúc khó khăn cũng là quyền lợi của những người thừa kế, và bạn được hưởng một phần trong số tài sản đó.

Anh 6 là người được giao quản lý di sản và sử dụng trong trường hợp cần thiết. Việc anh 6 không giao số tài sản đáng được hưởng cho bạn là đã vi phạm quy định khi không thực hiện nghĩa vụ dân sự. Bộ luật dân sự quy định:

Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.

Để giải quyết trường hợp này, bạn nên nói chuyện lại một lần nữa với anh 6. Trình bày rõ hoàn cảnh và trách nhiệm thờ cúng, ba mẹ đã để lại tài sản mong anh thực hiện theo di nguyện. Khi cảm thấy không thể nói chuyện được với anh bạn nữa thì bạn hãy khởi kiện lên Toà án cấp huyện để yêu cầu anh bạn thực hiện nghĩa vụ dân sự, trao số tài sản thích đáng cho bạn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Khởi kiện tranh chấp tài sản thừa kế quyền sở hữu nhà ?

Xin chào Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Ông bà ngoại tôi có 4 trai 3 gái nhưng mất 1 người hiện chỉ còn 4 trai 2 gái, ông ngoại mất cách đây hơn 40 năm nhưng trước khi mất có chia cho 3 người cậu và 1 người gì mỗi người 1 căn nhà, còn mẹ tôi và người cậu út do thời điểm đó còn quá nhỏ nên không được phần. Và có để lại 1 ngôi nhà do Ông bà đứng tên, khi ông mất thì bà đứng tên.

Sau này người cậu út định cư ở Mỹ cũng hơn 20 năm (đã nhập tịch bên Mỹ ). Hiện tại chỉ có mẹ tôi và mấy chị em tôi cùng chung hộ khẩu với bà ngoại, do bà bị bệnh nằm liệt giường mất khả năng dân sự. Và người cậu út đã về Việt Nam muốn dành quyền sở hữu ngôi nhà được sự đồng thuận của những người cậu trong nhà và không chia phần cho mẹ tôi. Vậy mẹ tôi có quyền khởi kiện tranh chấp tài sản dành quyền lợi mặc dù Bà ngoại vẫn còn đang sống. Tất cả giấy tờ có liên quan đến ngôi nhà đều trong tay của người cậu út và họ muốn cắt tên mẹ và chị em tôi ra sổ hộ khẩu.

Nếu khởi kiện tôi sẽ phải làm gì ? Vì hiện tại những người cậu đang lo làm thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu cho cậu út. Rất mong nhận được sự hỗ trợ của Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.N

Khởi kiện tranh chấp tài sản thừa kế quyền sở hữu nhà ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như thông tin mà bạn cung cấp thì ngôi nhà đang đứng tên Bà của bạn. Như vậy theo quy định của pháp luật thì Bà bạn là chủ sở hữu hợp pháp đối với căn nhà trên. Theo quy định tại Điều 10 Luật nhà ở 2014:

"Điều 10/ Quyền của chủ sở hữu nhà ở và người sử dụng nhà ở

1. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các quyền sau đây:

a) Có quyền bất khả xâm phạm về nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình;

b) Sử dụng nhà ở vào mục đích để ở và các mục đích khác mà luật không cấm;

c) Được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai;

d) Bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở; trường hợp tặng cho, để thừa kế nhà ở cho các đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó;

đ) Sử dụng chung các công trình tiện ích công cộng trong khu nhà ở đó theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

Trường hợp là chủ sở hữu nhà chung cư thì có quyền sở hữu, sử dụng chung đối với phần sở hữu chung của nhà chung cư và các công trình hạ tầng sử dụng chung của khu nhà chung cư đó, trừ các công trình được xây dựng để kinh doanh hoặc phải bàn giao cho Nhà nước theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua nhà ở;

e) Bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về xây dựng;

g) Được bồi thường theo quy định của luật khi Nhà nước phá dỡ, trưng mua, trưng dụng nhà ở hoặc được Nhà nước thanh toán theo giá thị trường khi Nhà nước mua trước nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai;

h) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các hành vi vi phạm quyền sở hữu hợp pháp của mình và các hành vi khác vi phạm pháp luật về nhà ở..."

Những người anh em của mẹ bạn không có quyền định đoạt đối với ngôi nhà trên khi Bà bạn vẫn đang là người đứng tên trên Giấy chứng nhận hợp pháp. Họ không thể thực hiện việc sang tên cho Cậu út của bạn vì theo quy định của pháp luật thì họ chỉ có thể chuyển nhượng khi họ là chủ sở hữu hợp pháp đối với ngôi nhà trên. Trong trường hợp này Mẹ bạn không thể khởi kiện tranh chấp về tài sản. Bởi lẽ đây là tài sản của bà bạn các bên không thể tranh chấp và khởi kiện khi không có quyền đối với ngôi nhà này. Chỉ trong trường hợp nếu họ có vi phạm quyền sở hữu hợp pháp thì bà bạn có thể khiếu nại, tố cáo về hành vi của họ ra trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Về việc Họ muốn cắt tên Mẹ và chị em bạn ra khỏi hộ khẩu thì theo như thông tin mà bạn cung cấp thì hiện nay trên sổ hộ khẩu chỉ có Bà bạn và mẹ con bạn. Họ không phải là chủ hộ và cũng không có tên trong hộ nên họ không có quyền cắt khẩu mẹ con bạn ra khỏi hộ khẩu.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài gọi: 1900.6162.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Chuyển quyền sử dụng nhà ở đối với tài sản thừa kế ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê, Ông bà ngoại tôi có 4 người con, trong đó có 1 người hiện nay định cư ở nước ngoài, 3 người còn lại sinh sống ở đà nẵng và thành phố hồ chí minh. Ông bà ngoại tôi đều đã mất, ông ngoại mất năm 1955, bà ngoại mất năm 2010.

Tài sản của ông bà ngoại tôi bao gồm một căn nhà, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp vào năm 2001 bởi ubnd tp đà nẵng, trên giấy chứng nhận ghi tên chủ sở hữu là bà ngoại và ông ngoại (chết). Ông bà ngoại không có lập di chúc. Nay các người con của ông bà ngoại muốn chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của căn nhà nêu trên sang cho 1 người con đang sống tại đà nẵng.

Luật sư cho tôi hỏi muốn làm được việc này thì các người con của ông bà ngoại cần phải làm những gì ? Trình tự thủ tục phải được tiến hành ra sao ?

Xin chân thành cảm ơn luật sư.

- Hang Nguyen

Luật sư trả lời:

Trong trường hợp của bạn nêu trên liên quan đến cả di sản của ông và bà ngoại bạn để lại. Ông bạn mất đã lâu kể từ năm 1955 xét về thời hiệu chia di sản ở đây là bất động sản theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định:

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Ông bạn đã mất được 63 năm thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản của ông bạn là đã hết nên những đồng thừa kế không có quyền yêu cầu chia thừa kế nữa. Bà bạn mới mất từ năm 2010 được 8 năm vẫn còn thời hiệu yêu cầu chia thừa kế.

Mà theo quy định của pháp luật dân sự những người có quyền thừa kế với phần di sản của ông bà bạn gồm 4 người con, cụ thể:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Xét hai chế định trên tuy các đồng thừa kế đã hết quyền yêu cầu chia di sản nữa nhưng các đồng thừa kế vẫn có quyền thỏa thuận về vấn đề chia tài sản thừa kế, các đồng thừa kế có thể thỏa thuận chia đều theo nguyên tắc chia di sản thừa kế theo pháp luật, hoặc chia theo ý kiến thống nhất chung của các đồng thừa kế nếu tất cả các đồng thừa kế muốn tài sản đó chuyển nhượng hết sang cho một người thì cần có biên bản cam kết về văn bản đó có chữ ký của tất cả các đồng thừa kế và được công chứng, chứng thực theo quy định. Sau đó tiến hành làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Cha có được quản lý tài sản thừa kế của con?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: “Ông nội qua đời, có di chúc để lại cho cháu nội đích tôn 12 tuổi một ngôi nhà nhưng lại giao cho người chú quản lý cho đến khi đứa cháu tròn 18 tuổi.
Xin hỏi người chú có quyền quản lý tài sản của cháu không? Tại sao người cha lại không được quản lý tài sản của con mình?
(Lê Văn Đông, Hải Phòng)

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, về nguyên tắc “tài sản riêng của con dưới 15 tuổi… do cha mẹ quản lý”.

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 45 còn có quy định: “Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc những trường hợp khác theo quy định của pháp luật”.

Vì vậy, trong trường hợp ông nội qua đời, có lập di chúc để lại cho cháu nội đích tôn 12 tuổi một ngôi nhà nhưng lại giao cho người chú quản lý cho đến khi đứa cháu tròn 18 tuổi thì người chú có quyền quản lý tài sản này.

Người cha không được quản lý tài sản của con mình vì ngôi nhà là tài sản thừa kế mà đứa con được hưởng theo di chúc và người để lại tài sản thừa kế theo di chúc không chỉ định cho người cha được quyền quản lý ngôi nhà này.

Ý kiến bổ sung:

Bạn thân mến, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết; do vậy mọi vấn đề liên quan tới di sản của người để lại di chúc phải thực hiện theo ý nguyện của người để lại di chúc. Theo quy định tại khoản 5 Điều 648 BLDS năm 2005 thì người để lại di chúc có quyền chỉ định người quản lý di sản.

Mặt khác, “Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc những trường hợp khác theo quy định của pháp luật” - trích khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Theo đó, đối với trường hợp của bạn, ý nguyện của ông nội lúc qua đời thể hiện ở bản di chúc là để cho cháu nội đích tôn 12 tuổi một ngôi nhà và giao cho người chú quản lý cho đến khi đứa cháu tròn 18 tuổi. Ông nội không có ý chỉ định cha của cháu quản lý phần tài sản của cháu . Như vậy, ông nội đã chỉ định chú là người quản lý phần di sản mà cháu đích tôn được thừa kế thì phải tuân theo ý nguyện của ông nội và cha của cháu không có quyền quản lý phần tài sản này.

Đăng tải các văn bản pháp luật liên quan:

>> Tải bộ luật dân sự số 33/2005/QH11;

>> Tải: Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10;

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?