1. Khái niệm về quan sát viên

Quan sát viên là người đại diện của một nước hoặc tổ chức quốc tế được cử đến tham gia ở mức độ hạn chế vào các hoạt động của một hội nghị hay một tổ chức quốc tế mà nước phái người đại diện không phải là thành viên.

Khi tham gia vào các hội nghị hay một tổ chức quốc tế, quan sát viên không có quyền tham gia bỏ phiếu hoặc kí các văn bản, nhưng trong một số trường hợp được phép tham. gia thảo luận một số vấn đề thuộc chương trình nghị sự của cuộc họp liên quan. Thể thức tham gia và quyền hạn của quan sát viên do quy chế của hội nghị hoặc tổ chức quốc tế quy định.

Trong thể lệ, thủ tục hoạt động của các cơ quan của Liên hợp quốc như Hội đồng bảo an, Đại hội đồng, Hội đồng quản thác, Toà án quốc tế tuy không có một quy định nào về đại diện của các quốc gia tham gia hoạt động của các tổ chức đó, nhưng trên thực tế vẫn có một số quan sát viên của các quốc gia tham gia. Nhiều nước trước khi trở thành thành viên Liên hợp quốc như Nhật Bản, Italia, Áo... đã cử quan sát viên thường trực tại Liên hợp quốc. Đến năm 1975, Công ước Viên về đại diện của các quốc gia trong quan hệ với các tổ chức quốc tế có tính phổ cập đã có quy định về các đại diện này.

2. Quan sát viên Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc là gì?

Ngoài 193 quốc gia thành viên, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc có thể cấp quy chế quan sát viên cho 1 tổ chức quốc tế, thực thể hoặc nhà nước phi thành viên, thực thể được tham gia các công việc của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, nhưng rất hạn chế. Đại Hội đồng có thể quyết định giới hạn đặc quyền cho các thực thể quan sát viên, chẳng hạn như quyền được phát biểu tại các cuộc họp Đại Hội đồng, bỏ phiếu về các vấn đề theo thủ tục, đóng vai trò như ký vào giấy tờ chấp thuận, và ký các nghị quyết, nhưng không được đưa ra nghị quyết quyết định và biểu quyết các nghị quyết các vấn đề quan trọng của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Tình trạng Quan sát viên được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc công nhận theo nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tình trạng thường trực sẽ do Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc quyết định theo thực tế, không có điều khoản quy định trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Tình trạng được công nhận quan sát viên phi thành viên. Quốc gia phi thành viên được tham gia các tổ chức của Liên Hiệp Quốc, có thể đăng ký trạng thái thường trực.

3. Quốc gia phi thành viên

Vào năm 2015, có 2 quốc gia quan sát viên không thường trú ở Liên Hiệp Quốc: Tòa Thánh Vatican và Palestine. Toà Thánh Vatican đã trở thành quan sát viên không phải thành viên vào năm 1964 và Palestine đã được chỉ định vào năm 2012, sau khi nộp đơn xin gia nhập thành viên vào năm 2011 mà không được sự chấp thuận của Hội đồng Bảo an. Cả hai đều được mô tả là "Các quốc gia phi thành viên đã nhận được lời mời thường trực tham gia với tư cách là quan sát viên trong các phiên họp và công việc của Đại Hội đồng và duy trì các phái quan sát viên thường trực tại trụ sở chính".[6] Vị thế của Tòa Thánh Vatican là 1 quan sát viên thường trực không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc đã bị đặt câu hỏi vì không có thuộc tính của 1 quốc gia.
Sự thay đổi tình trạng quan sát viên Palestine năm 2012 từ "thực thể quan sát phi thành viên" thành "nhà nước quan sát viên phi thành viên" được coi là "nâng cấp" vị thế của họ. Nhiều người gọi đây là sự thay đổi "tượng trưng", nhưng nó được coi là đòn bẩy mới cho người Palestine khi họ làm việc với Israel. Kết quả là, trong sự thay đổi tình trạng, Ban Thư ký Liên Hiệp Quốc thừa nhận quyền Palestine trở thành một bên của các hiệp ước mà Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc là người lưu chiểu.
Các ghế ngồi tại Đại Hội đồng được sắp xếp với các quốc gia quan sát viên phi thành viên ngồi ngay sau các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc và trước các quan sát viên khác. Vào ngày 10/9/2015, Đại Hội đồng đã quyết định phê chuẩn việc nâng cao cờ của các quốc gia quan sát viên phi thành viên của Liên Hiệp Quốc cùng với 193 nước thành viên của Liên Hiệp Quốc.
Nhà nước phi thành viên Thời gian trạng thái quan sát được cấp Thời gian bổ sung và chi tiết
Tòa Thánh Vatican
  • 6/4/1964: Cấp tư cách nhà nước quan sát viên thường trú.
  • 1/7/2004: đã có được tất cả các quyền của tư cách thành viên đầy đủ trừ quyền bỏ phiếu, đệ trình đề xuất giải quyết mà không có nghị quyết và đưa ra các ứng viên (A/RES/58/314)
Chủ quyền với lãnh thổ thành phố Vatican
Nhà nước Palestine
  • 22/11/1974: tình trạng quan sát viên phi nhà nước cho Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) (A/RES/3237 (XXIX))
  • 9/12/1988: quyền lưu thông tin liên lạc mà không cần trung gian (A/RES/43/160)
  • 15/12/1988: Chỉ định "Palestine" (A/RES/43/177)
  • 7/7/1998: quyền tham gia tranh luận chung và các quyền bổ sung (A/RES/52/250)
  • 29/11/2012: Trạng thái nhà nước quan sát phi thành viên (A/RES/67/19)
  • 28/10/1974: Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 7 các quốc gia Ả Rập họp tại Rabat chỉ định PLO được công nhận là "đại diện độc lập duy nhất của người dân Palestine." (và sau đó có quan hệ với hơn 100 quốc gia và Israel).
  • 22/11/1974: PLO công nhận có thẩm quyền về mọi vấn đề liên quan đến các vấn đề của Palestine do Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, đại diện cho người Palestine ở Palestine độc lập dân tộc và chủ quyền.
  • 15/11/1988: PLO đơn phương tuyên bố thành lập Nhà nước Palestine.
  • 4/5/1994: PLO thiết lập Chính quyền Dân tộc Palestine quản lý lãnh thổ Palestine theo Hiệp định hòa bình Oslo do chính PLO, Israel, Hoa Kỳ và Nga ký kết.
  • 7/7/1998: PLO được chỉ định ngồi tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngay sau nhà nước phi thành viên và trước các quan sát viên khác.
  • 23/9/2011: Nhà nước Palestine xin cấp trạng thái thành viên của Liên Hiệp Quốc.
  • 17/12/2012: Trợ lý Đặc biệt của Tổng Thư ký Yeocheol Yoon quyết định chỉ định Nhà nước Palestine sẽ được Ban Thư ký sử dụng trong tất cả các tài liệu chính thức của Liên Hiệp Quốc.
Ghi chú:

+ Quần đảo Cook và Niue, cả 2 có liên kết tự do với New Zealand, là thành viên của nhiều cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc, và đã có "năng lực hiệp ước đầy đủ" được công nhận bởi Ban Thư ký Liên Hiệp Quốc vào năm 1992 và 1994 tương ứng. Quần đảo Cook đã bày tỏ mong muốn trở thành 1 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, nhưng New Zealand tuyên bố rằng họ sẽ không ủng hộ bất cứ hành động đơn phương thay đổi hiến pháp, đặc biệt là quyền của Quần đảo Cook thuộc quốc tịch New Zealand.

+ Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) là nhà nước sáng lập Liên Hiệp Quốc đại diện cho Trung Quốc trong giai đoạn nội chiến. Tuy nhiên từ 1971, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nhà nước quản lý vị trí này. Từ đó Đài Loan đã tìm cách tiếp tục tham gia vào các hoạt động của Liên Hiệp Quốc như tham gia các cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc nhưng đều bị ngăn chặn bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

4. Danh sách các quốc gia quan sát viên trước đây

Quốc gia Quan sát viên Thành viên chính thức Thời gian
Thụy Sĩ 1946 2002 56 năm
Hàn Quốc 1949 1991 42 năm
Áo 1952 1955 3 năm
Cộng hòa Liên bang Đức 1952 1973 21 năm
Italy 1952 1955 3 năm
Nhật Bản 1952 1956 4 năm
Phần Lan 1952 1955 3 năm
Việt Nam Cộng hòa 1952 — [Note 1] — (quan sát 24 năm)
Tây Ban Nha 1955 1955 0 năm
Monaco 1956 1993 37 năm
Kuwait 1962 1963 1 năm
Cộng hòa Dân chủ Đức 1972 1973 1 năm
Bangladesh 1973 1974 1 năm
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 1973 1991 18 năm
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1975 — [Note 1] — (quan sát 1 năm)
Việt Nam 1976 1977 1 năm

5. Thực thể quan sát viên phi thành viên

Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc có thể mời các thực thể không phải thành viên tham gia vào hoạt động của Liên Hiệp Quốc mà không có tư cách thành viên chính thức, và đã làm như vậy trong nhiều dịp. Những thực thể tham gia như vậy được mô tả là quan sát viên, một số trong số đó có thể được phân loại là các nhà nước quan sát viên. Hầu hết các quốc gia không phải là thành viên của nhà quan sát đều chấp nhận tình trạng quan sát viên tại thời điểm họ nộp đơn xin gia nhập nhưng không thể đạt được điều này, do (hoặc thực tế) sự phủ quyết của một hoặc nhiều thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Việc cấp tư cách quan sát viên thực hiện bởi Đại Hội đồng và không thuộc diện phủ quyết của Hội đồng Bảo an.

Trong một số trường hợp 1 quốc gia có thể chọn trở thành 1 quan sát viên chứ không phải là thành viên chính thức. Ví dụ, để duy trì tính trung lập của mình trong khi tham gia vào công việc, Thụy Sĩ đã chọn để duy trì quan sát viên không phải là thành viên thường trực từ năm 1948 cho đến khi trở thành thành viên vào năm 2002 mặc dù là nơi đặt trụ sở châu Âu và của một số cơ quan Liên Hiệp Quốc.Tòa Thánh đã không muốn gia nhập Liên Hiệp Quốc như 1 thành viên vì "Việc tham gia vào tổ chức dường như không phù hợp với các điều khoản của Điều 24 của Hiệp ước Laterano, đặc biệt những vấn đề chính trị, quân sự và kinh tế".Từ ngày 6/4/1964, Tòa Thánh đã chấp nhận tư cách quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc, được xem như là 1 giải pháp ngoại giao, cho phép Vatican tham gia vào các hoạt động của Liên Hiệp Quốc.

6. Sơ lược về Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc?

Kỳ họp thường niên của Đại Hội đồng thường bắt đầu vào ngày thứ ba của tháng 9 và kết thúc vào giữa tháng 12 với chức danh Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc được bầu vào lúc khởi đầu của mỗi kỳ họp. Kỳ họp đầu tiên được triệu tập ngày 10 tháng 1 năm 1946 tại Westminster Central Hall tại Luân Đôn với các đại biểu đến từ 51 quốc gia.
Đại Hội đồng biểu quyết bằng cách bỏ phiếu trong các vấn đề quan trọng – đề xuất hòa bình và an ninh; tuyển chọn thành viên cho các cơ quan; thu nhận, đình chỉ và trục xuất thành viên và các vấn đề ngân sách – cần được thông qua bởi đa số 2/3 số đại biểu có mặt và bỏ phiếu. Các vấn đề khác được quyết định bởi đa số quá bán. Mỗi quốc gia thành viên chỉ có một phiếu. Ngoại trừ việc thông qua các vấn đề về ngân sách bao gồm việc chấp nhận một thang bậc thẩm định, nghị quyết của Đại hội đồng không có giá trị ràng buộc đối với thành viên. Đại hội đồng có thể đề xuất về các sự việc trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc, ngoại trừ các vấn đề liên quan đến hòa bình và an ninh thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đồng Bảo an. Trên lý thuyết, quy chế 1 quốc gia, 1 lá phiếu cho phép các nước nhỏ với dân số tổng cộng chiếm chỉ 8% dân số thế giới có khả năng thông qua nghị quyết với đa số 2/3 trên tổng số phiếu.
Suốt thập niên 1980, Đại Hội đồng trở thành diễn đàn cho “đối thoại Bắc-Nam” – thảo luận về các vấn đề nảy sinh giữa các nước đã công nghiệp hóa và các nước đang phát triển. Những vấn đề này được đưa lên hàng đầu vì cớ sự phát triển thần kỳ và vì có diện mạo đang thay đổi của thành phần thành viên Liên Hiệp Quốc. Năm 1945, Liên Hiệp Quốc có 51 thành viên, nay con số này là 193, với hơn 2 phần 3 là các quốc gia đang phát triển. Chiếm phần đa số, các nước đang phát triển có khả năng ấn định nghị trình của Đại hội đồng (thông qua phương pháp phối hợp các nhóm quốc gia như G7), chiều hướng các cuộc tranh luận và thực chất của các quyết định. Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, Liên Hiệp Quốc là nguồn cung ứng cho họ ảnh hưởng ngoại giao và diễn đàn chính cho những sáng kiến ngoại giao.
Luật Minh KHuê (tổng hợp & phân tích)